(Thứ năm, 05/02/2026, 12:53 GMT+7)
Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan sinh năm 1528, quê ở làng Phùng Xá, tên Nôm là Kẻ Bùng, huyện Thạch Thất, Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội). Ông có tên hiệu là Hoằng Phu, Nghị Trai, Mai Nham Tử. 


ÔNG TRẠNG
 
Trần Lê Văn
 
Đội mũ cánh chuồn, ông ngồi trong tranh
Nếp tranh lụa giữ nguyên màu áo Trạng
Vẻ mặt ông nôm na, đồng áng
Tôi gặp luôn, nơi thôn xóm Kẻ Bùng.
                        *
Hương khói đền đài không mờ hình dung
Ông lão tinh anh, cười móm mém
Ngồi xếp bàn tròn giữa cháu con, kể chuyện
Nghe rất xa mà lại rất gần.
                        *
Không thể đong và không thể cân
Chữ nghĩa thánh hiền, đầu ông chất chứa
Nói ra chữ, thử sức nhau bằng chữ
Sành chữ hơn người mới gọi Trạng Nguyên
                        *
Trạng Kẻ Bùng, Đông Đoài lừng tên
Bài thơ sứ vang “Cửa trời” phương Bắc
Con mắt ông sáng trong vằng vặc
Soi vào, chữ cũng sáng thêm ra.
                         *
Con mắt ông thấy đất sâu, trời xa
Thấy cả những gì thánh hiền chẳng nói
Từ muôn dặm, một hạt ngô mang về bờ cõi
Qua bốn trăm năm, gửi đến bây giờ

                          *
Sông xanh nương ngô, đồi xanh nương ngô
Bởi một hạt mọc mầm trong đầu người phút ấy
Chắc hẳn đất Kẻ Bùng đã dạy
Trạng biết tìm cây, lựa hạt cho đời
                         *
Thơ chữ Nho, xướng họa mấy trăm bài
Cuồn cuộn chảy trước lầu son gác tía
Trạng vẫn nhớ vun bồi thơ tiếng mẹ
Sách trồng cây xanh mướt trường ca.
                         *
Cho chúng mình gặp cỏ, gặp hoa
Quanh người Trạng. Cả dây bầu dây bí
Trẩu, sở, vàng tâm… Rừng cây hậu hĩ
Như quê làng Bùng trai gái sum suê.
                         *
Ông vẫn rộn ràng với khung dệt lụa the
Thủ thỉ với dòng mương ông khơi ngày trước
Mương làng Bùng: mạch thơ tuôn nước
Lụa làng Bùng đẹp áo Trạng Nguyên.
                         *
Vẻ mặt ông còn tạc, còn in
Vào cổ tích, ca dao, cây đa bóng mát…
Ông Trạng nước Nam tài ba lỗi lạc
Vui với chúng mình từ lúc tuổi thơ.
                                           
                                     Ngày 10-6-1992

 
 
PHÙNG KHẮC KHOAN
 
Thái Bá Tân
 
                                   1
 
Phùng Khắc Khoan nổi tiếng
Là một người tài, hiền.
Ông mới đậu Hoàng giáp,
Chưa hề đậu Trạng nguyên,
 
Nhưng được gọi là Trạng,
Chính xác là Trạng Bùng,
Vì quê ở Thạch Thất,
Và sinh ở làng Bùng.
 
Nghe người ta nói lại,
Phùng Khắc Khoan là em,
Tuy khác cha, cùng mẹ,
Với Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm.
 
Được cha dạy từ nhỏ,
Rồi lại theo học anh,
Ông tấn tới nhanh chóng
Trên con đường học hành.
Nhưng dười triều nhà Mạc,
Ông không chịu đi thi.
 
Trung với triều Lê cũ,
Chỉ ở nhà ngủ khì.
 
Năm một năm năm bảy,
Ông đỗ đầu thi Hương,
Lúc đã hăm chín tuổi,
Rồi theo đường quan trường.  
 
Trịnh Kiểm biết ông giỏi,
Cho làm ở Ngự dinh,
Trông coi bốn quân vệ,
Tham dự việc cơ binh.
 
Vua cho mở thi Hội,
Năm một năm tám không.
Ông thi đỗ Hoàng giáp,    
Làm Thị lang bộ Công.     
 
Năm một năm chín bảy,
Sáu mươi chín tuổi đời,
Ông được cử đi sứ,
Tài đối đáp hơn người.
 
Chỉ hai năm sau đó,
Ông được thăng Thượng thư,
Bộ Công rồi bộ Lại,    
Rồi về quê nhàn cư.
 
                             2
 
Trong thời gian đi sứ,
Phùng Khắc Khoan nhập tâm
Học cách trồng ngô bắp,    
Cách dệt the, nuôi tằm.
 
Về nước, ông truyền lại 
Cho dân chúng trong làng.
Một số nơi, vì thế,
Tôn ông làm Thành hoàng.
 
Một số giống lúa tốt
Ông cũng lén mang về
Để giúp dân Thạch Thất
Trồng chúng ở đồng quê.
 
Sau khi thành trí sĩ,
Ông ra đồng hàng ngày
Giúp dân đào kênh, rạch
Vùng xung quanh núi Thầy.
 
Nhờ thế mà có nước
Tưới cho các cánh đồng
Ở Phùng Xá, Hoàng Xá,
Giúp phát triển nghề nông.
 
                                3
 
Phùng Khắc Khoan, ta biết,
Còn là một nhà thơ,
Cả chữ Nôm, chữ Hán,
Còn lưu đến bây giờ.
 
Ông còn là tác giả
“Sấm Thượng thư họ Phùng”,
Người đời chắc vì thế
Gọi ông là Trạng Bùng.
 
Thơ ông rất tao nhã,
Phong cách không giống ai.
Ông viết nhiều, chỉ tiếc,
Lưu được ba trăm bài.
 
 
 
KÍNH CẨN NGHIÊNG MÌNH
                
                                       
Phan Thị Bảo
 
          
Đức Cụ trạng nguyên - một vì sao sáng
Cụ hiền từ, tâm toả rạng non sông
Trạng đi sứ vang lừng mãi chiến công
Nguyên chí mẹ([1]) tưới mát đồng kẻ Nủa([2])
 
Một tâm hồn sáng trời Nam muôn thuở
Vì non sông chăm nấu sử sôi kinh
Sao toả lầu son, lưỡng quốc thấu tình
Sáng tỏ rừng xanh([3]) triều đình lai đáo.
 
 
 
 
HOA TRÀ TRONG NHÀ THỜ TRẠNG
 
Phùng Khắc Việt Hùng
 
 
Đẹp quá, hoa trà khởi sắc xuân
Tươi kia, hoa chắt những xa gần
Thắm kia, hoa lọc nhiều sau trước
Để bừng nghĩa Nước với tình Dân.
    
Trồng hoa mà thấy lòng se lại
Có phải sắc hồng mỗi trái tim?
Người ơi, hậu thế còn đau lắm
Bao trắng đen, xấu tốt, nổi chìm!
 
Tâm thành như đoá trà hoa ấy
Hơn hẳn lễ đầy: rượu, thịt, xôi
Giàu tiền mà vẫn nghèo nhân đức
Hương khói làm chi, thẹn với Người!
 
Cháu con ghi nhớ ơn trời bể
Trung hưng sáng mãi họ tên Người
Hoa ơi, thắm mãi trong lòng Trạng
Cho đời đẹp mãi nét xuân tươi!
Mạnh xuân Ất Sửu 1985

Một số hình ảnh:















([1]) Chí mẹ - Tâm chí của bà mẹ họ Nhữ mong con khôn lớn là người có ích cho non sông xã tắc.
([2])Kẻ Nủa -  Quê hương Phùng Khắc Khoan (Tên dân gian thường gọi).
([3])Khi Cụ Phùng bị lưu đày ở núi Mang Quạ, triều đình phải cử người đến hỏi Cụ giải nghĩa cho hai chữ “Thanh thuý” trong  “Lâm tuyền vãn”.