(Thứ ba, 17/03/2026, 10:09 GMT+7)

 

Trong kho tàng di sản của Phùng Khắc Khoan, thơ ca giữ một vị trí đặc biệt, vừa thể hiện tâm hồn của một nhà nho lớn, vừa phản ánh tầm vóc trí tuệ và nhân cách của một nhà ngoại giao, Danh nhân văn hoá lịch sử của dân tộc. Những bài thơ Phùng Khắc Khoan được giới thiệu dưới đây do nhà văn Đặng Văn Sinh chuyển dịch, trích từ nguồn tư liệu phục vụ hồ sơ đề cử Phùng Khắc Khoan trở thành Danh nhân văn hoá thế giới. Qua bản dịch giàu cảm xúc và thấm đẫm tinh thần học thuật, bạn đọc hôm nay có cơ hội tiếp cận gần hơn với thế giới tinh thần của Trạng Bùng - nơi hội tụ khí phách của một bậc sĩ phu, tầm nhìn của một nhà ngoại giao và chiều sâu của một tâm hồn thi sĩ. Những vần thơ ấy không chỉ là tiếng nói của một thời đại, mà còn là giá trị văn hoá bền bỉ, góp phần làm sáng rõ hơn chân dung một danh nhân lớn của lịch sử Việt Nam. Trong các số tiếp theo, chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu tới bạn đọc các bài thơ của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan qua bản dịch của các dịch giả, cùng một số bài viết, cuộc phỏng vấn, đối thoại đặc sắc xoay quanh cuộc đời và sự nghiệp của ông.

 
 
Nhà văn Đặng Văn Sinh


 

行 年
時 蓋 乙 亥 之 四 十 八 歲 也.
 
年 瑜 強 仕 更 康 強,
所 處 聊 分 內 常.
時 時 加 又 習,
德 期 日 日 進疆 .
思 那 芥 帶心 常 遶,
居 有 芝 蘭 室 自 香.
秋 桂 春 梅 催 客 興,
詩 成 筆 起 新 陽.
 
Phiên âm:
 
HÀNH NIÊN
Thời cái Ất Hợi chi tứ thập bát tuế dã.
 
Niên du cường sĩ cánh khang cường,
Sở xử liêu tùy phân nội thường.
Học vô thời thời gia hựu tập,
Đức kỳ nhật nhật tiến vô cương.
Tư na giới đái tâm thường nhiễu,
Cư hữu chi lan([1]) thất tự hương.
Thu quế xuân mai thôi khách hứng,
Thi thành bút dĩ khởi tân dương.
 
Dịch nghĩa:
 
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Ất Hợi, ta bốn mươi tám tuổi.
 
Năm qua làm quan được khỏe mạnh,
Luôn giữ đạo tâm vì đạo lí.
Học tập không quên phải luyện tập thường xuyên,
Hàng ngày nỗ lực rèn luyện tu dưỡng phẩm hạnh tiến bộ không ngừng.
Suy nghĩ về việc nhỏ nhặt tâm thường nhiễu loạn,
Sống ở lều cỏ tự mình sẽ toả hương.
Quế mùa thu, mai mùa xuân gợi hứng giục lòng thơ,
Thơ làm vừa xong, ngừng bút thì mặt trời mới mọc.
 
Dịch thơ:
 
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Ất Hợi, ta bốn mươi tám tuổi.
 
Làm quan năm trước khang cường
Bởi chưng giữ được đạo thường bình yên
Học rồi phải tập thường xuyên
Chữ tâm chữ đức chớ quên bên mình
Nghĩ nhỏ nhặt, rối loạn sinh
Sống gần hoa cỏ tự mình tỏa hương
Quế mai đón khách bốn phương
Thơ thành, ngày mới ánh dương vừa về.
 
                                               Đặng Văn Sinh dịch

 
 
Đền thờ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan tại Hà Nội

 
行 年

時 蓋 丙 子 四 十 九 歲 也

 
七 七 行 庚 正 盛 年,
年 來 又 值 艷 陽 天.
日 充 月 積 詩 書 澤,
陰 伏 陽 生 造 權.
整 頓 乾 坤 歸 局 一,
平 章 風 月詩 千.
遇 著 好 時 節,
忠 孝 初 心 喜 得 年.
 
Phiên âm:
 
HÀNH NIÊN
Thời cái Bính Tý tứ thập cửu tuế dã.
 
Thất thất hành canh chính thịnh niên,
Niên lai hựu trị diễm dương thiên.
Nhật sung nguyệt tích thi thư trạch,
Âm phục dương sinh tạo hóa quyền.
Chỉnh đốn càn khôn quy cục nhất,
Bình chương phong nguyệt bát thi thiên.
Đáo lai ngộ trước hảo thời tiết,
Trung hiếu sơ tâm hỉ đắc niên.
 
Dịch nghĩa:
 
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Bính Tý, ta bốn mươi chín tuổi.
 
Năm nay ta bốn mươi chín tuổi,
Năm tới sắc người lại thêm đẹp
Ngày tháng chuyên tâm thấm nhuần sách vở,
Âm phục dương sinh là quy luật của tạo hóa.
Muốn sửa lại giang sơn quay về một mối,
Đã bình phẩm được tám nghìn bài thơ nói về gió trăng.
Đến được như vậy là do gặp được thời cơ tốt,
Tấm lòng trung hiếu làm đầu, hàng năm sẽ có được sự hoan hỉ.
 
Dịch thơ:
 
 
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Bính Tý, ta bốn mươi chín tuổi.
 
Bốn chín xuân qua sống thảnh thơi
Sang năm lại thấy vẻ càng tươi
Tháng ngày đọc sách nhuần kinh sử
Âm phục dương sinh ấy đạo trời
Sửa lại giang sơn về một mối
Bình thơ phong nguyệt tám ngàn bài
Đến nay được thế bởi thời tiết
Trung hiếu làm đầu vẹn cả hai.
 
                                        Đặng Văn Sinh dịch
 
 
 
行 年
時 蓋 丁 丑 之 五 十 歲 也
 
曾 聖 五 十 知 天 命,
衛 賢 五 十 知 前 非.
或 先 或 後 雖 云 異,
為 聖 為 賢 正 可 希.
進 進 到 來 那 地 位,
生 生 覺 得 這 天 機.
朝 回 紫 禁 春 風 曉,
攜 得 香 煙 滿 神 歸.
 
Phiên âm:
 
HÀNH NIÊN
(Thời cái Đinh Sửu chi ngũ thập tuế dã)
 
Tăng thánh ngũ thập tri thiên mệnh,          
Vệ hiền ngũ thập chi tiền phi.
Hoặc tiên hoặc hậu tuy vân dị,
Vi thánh vi hiền chính khả hi.
Tiến tiến đáo lai na địa vị,
Sinh sinh giác đắc giá thiên cơ.
Triều hồi tử cấm xuân phong hiểu,
Huề đắc hương yên mãn thần quy.
 
Dịch nghĩa:
 
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Đinh Sửu, ta năm mươi tuổi.
 
Thánh đã từng nói: ngài tới 50 tuổi mới biết mệnh trời,
Người tài đức thì 50 tuổi sẽ biết phân biệt phải trái, trước sau, xấu tốt.
 Nghi ngờ trước sau dù đó là điều khác lạ,
Làm thánh, làm người hiền tài có mấy ai dễ được chấp thuận.
Không ngừng tiến lên, đến nay đã có được địa vị,
Dần dần sẽ biết được thiên cơ ấy.
Đi chầu về sắc tía chặn gió xuân.
Mang được tiếng thơm, trở về hương khói cho tổ tiên.                                                                 
 
Dịch thơ:  
 
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Đinh Sửu, ta năm mươi tuổi.
 
Thánh năm mươi, biết mệnh trời
Hiền tài năm chục hiểu đời nông sâu
Ngờ sau trước, dẫu khác nhau
Làm hiền, làm thánh có đâu dễ dàng
Luôn cầu tiến mới vẻ vang
Dần dần sẽ hiểu rõ ràng thiên cơ
Tan chầu, sắc tía, gió đưa
Mang hương thơm đến bàn thờ tổ tiên.
 
                                             Đặng Văn Sinh dịch

 
 
Cuốn sách "Phùng Khắc Khoan - Thân thế, cuộc đời và sự nghiệp"

 

行 年
時 蓋 戊 寅 之 五 十 一 歲 也
 
自 喜 年 方 半 百 強,

皇 天 錫 福 壽 而 康.
師 賢 友 善 教 中 樂,
子 孝 臣 忠 分 內 常.
種 德 庭 前 花 就 實,
迎 春 院 後 鳥 含 香.
優 游 受 服 公 朝 假,
紫 閣 天 低 日 月 長.
 
Phiên âm:
 
HÀNH NIÊN
Thời cái Mậu Dần chi ngũ thập nhất tuế dã.
 
Tự hỉ niên phương bán bách cường,
Hoàng thiên tích phúc thọ nhi khang.
Sư hiền hữu thiện giáo trung lạc,
Tử hiếu thần trung phân nội thường.
Chủng đức đình tiền hoa tựu thực,
Nghênh xuân viện hậu điểu hàm hương.
Ưu du thụ phục công triêu giả,
Tử các thiên đê nhật nguyệt trường.
 
Dịch nghĩa:
 
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Mậu Dần, ta năm mươi mốt tuổi.
 
Tự mừng tuổi đã quá nửa trăm,
Nhờ có tổ tiên tích phúc đức mà ta được sống lâu, bình an.
Được thầy tài đức dạy dỗ, có được bạn bè tốt thì trong lòng rất vui mừng,
Làm con thì phải hiếu với cha mẹ, làm bề tôi thì phải trung với vua, là đạo lý trong lòng ai cũng rõ.
Trồng đức trước sân hoa kết trái,
Đón xuân, sau nhà chim ngậm hương.
Ung dung nhận lấy áo quan mà triều đình ban cho,
Ngày tháng dài cúi đầu nơi gác tía.
 
Dịch thơ:
 
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Mậu Dần, ta năm mươi mốt tuổi.
 
Ta mừng đã quá năm mươi
Trời xanh ban phúc khiến người an khang
Nhờ thầy, bạn được giỏi giang
Hiếu trung hai chữ luôn mang trong lòng
Nở hoa, cây đức sân trong
Vườn sau xuân đến chim hồng ngậm hương
Nhận áo mũ giữa triều đường
Cúi đầu gác tía vấn vương ngày dài.
 
                                                    Đặng Văn Sinh dịch
 
行 年
時 蓋 己 卯 之 五 十 二 歲 也
 
半 百 年 強 今又 二,
樂 逍 遙 住 乾 坤 裡.
筆 耕 舌 織 做 生 涯,
道 積 身 安 為 富 貴.
室 滿 芝 蘭 日 有 香,
門 開 桃 李 春 長 媚.
好 將 陰 德 厚 栽 培,
造 物 與 吾 良 有 意
 
Phiên âm
 
HÀNH NIÊN
Thời cái Kỷ Mão chi ngũ thập nhị tuế dã.
 
Bán bách niên cường kim hựu nhị,
Lạc tiêu dao trụ càn khôn([2]) lí.
Bút canh thiệt chức tố sinh nhai,
Đạo tích thân an vi phú quý.
Thất mãn chi lan([3]) nhật hữu hương,
Môn khai đào lý xuân trường mị.
Hảo tương âm đức hậu tài bồi,
Tạo vật dữ ngô lương hữu ý.
 
Dịch nghĩa:
 
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Kỷ Mão, ta năm mươi hai tuổi.
 
Năm nay ta đã năm mươi hai tuổi khỏe,
Ta vui với thú tiêu dao, sống với lẽ càn khôn.
Một ngòi bút viết thường dùng để thay sức cày bừa,
Tích đạo làm cho thân tâm được an sẽ làm nên giàu sang,
Phòng có nhiều cây chi và cây lan thì hàng ngày đều có mùi thơm,
Mở cửa thấy đào, mận mùa xuân như làm duyên.
Cõi âm ngầm giúp, vun đắp tài đức cho ta,
Vạn vật xung quanh ta đều có ý tốt.
 
Dịch thơ:
 
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Kỷ Mão, ta năm mươi hai tuổi
 
Thú tiêu dao giữa đất trời
Tuổi ta đã sống trên đời năm hai
Bút cày làm kế sinh nhai
Tích đạo ngày dài phú quý thân an
Nhà thơm bởi lắm chi lan
Mở cửa ra vườn đào mận làm duyên
Âm công bồi đắp mà nên
Ý tốt vạn vật trăm miền quanh ta.
 
                                                 Đặng Văn Sinh dịch

 
 
 
GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc đang xem các đường nét, chữ trên lư hương lớn
trước gian thờ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan


 

行 年


時 蓋 辛 巳 之 五 十 四 歲 也
 
行 庚 半 百 四 年 強,
自 喜 皇 天 畀 壽 康.
鄉 月 昔 曾 聯 密 邇,
福 星 今 又 楫 煇 光.
當 官 清 點 梅 同 節,
種 子 祥 開 桂 有 香.
節 好 況 逢 新 宇 宙,
如 在 古 虞 唐.
 
Phiên âm:
 
HÀNH NIÊN
Thời cái Tân Tỵ chi ngũ thập tứ tuế dã.
 
Hành canh bán bách tứ niên cường,        
Tự hỷ hoàng thiêntý thọ khang.
Hương nguyệt tích tằng liên mật nhĩ,
Phúc tinh([4]) kim hựu tiếp huy quang([5]).
Đương quan thanh điểm mai đồng tiết,
Chủng tử tường khai quế hữu hương.
Tiết hảo huống phùng tân vũ trụ([6]),
Thái hòa như tại cổ Ngu Đường.
 
Dịch nghĩa:
 
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Tân Tỵ, ta năm mươi tư tuổi.
 
Năm nay ta năm mươi tư tuổi khỏe,
Tự mừng trời ban cho thọ khang (sống lâu, khỏe mạnh).
Đêm trăng nơi quê nhà đã từng có lần 
Trước gặp vận may nay lại làm nên vẻ vang.
Làm quan phải giữ lấy trong sạch như khí tiết của cây mai,
Hạt giống tốt nở ra cây quế có hương thơm,
Gặp cơ hội tốt càng muốn làm thay đổi vũ trụ.
Mong được thái bình yên vui như ngày xưa thời vua họ Đường nhà Ngu.
 
Dịch thơ:
 
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Tân Tỵ, ta năm mươi tư tuổi.
 
Năm tư tuổi hạc được trời thương
Tự thấy mình nay vẫn kiện khang
Trăng cũ cố hương từng gặp lại
Vận may mới đến thật vẻ vang
Làm quan thanh bạch, mai cao khiết
Hạt quý nở thành quế tỏa hương
Tiết đến muốn làm thay vũ trụ
Thái bình như cảnh trước Ngu Đường.
 
                                                Đặng Văn Sinh dịch
 
 
 
行 年
時 蓋 壬 午 之 五 十 五 歲 也
 
今 年 半 百 年 加 五,
再 睹 一 番 新 宇 宙.
酌 酒 香 孚 柏 葉 杯,
看 花 芳 潤 梅 枝 雨.
景 多 好 處 笑 眉 開,
道 在 樂 中 生 意 寓.
遇 聖 遭 明 報 謂 何,
訟 詩 敬 上 南 山 壽.
 
Phiên âm:
 
HÀNH NIÊN
Thời cái Nhâm Ngọ chi ngũ thập ngũ tuế dã.
 
Kim niên bán bách niên gia ngũ,
Tái đổ nhất phiên tân vũ trụ.
Chước tửu hương phù bách diệp bôi,
Khán hoa phương nhuận mai chi vũ.
Cảnh đa hảo xứ tiếu mi khai,
Đạo tại lạc trung sinh ý ngụ.
Ngộ thánh tao minh báo vị hà,
Tụng thi kính thượng nam sơn thọ.
 
Dịch nghĩa:
 
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Nhâm Ngọ, ta năm mươi lăm tuổi.
 
Năm nay ta năm mươi lăm tuổi,
Mong một lần được thấy vũ trụ đổi thay tốt đẹp hơn.
Đời người cũng như chén rượu đầy vơi, có hương thơm nhưng rồi cũng bay mất,
Xem hoa thơm lại thêm cơn mưa hoa mai.
Ở nơi có cảnh đẹp tuyệt vời, miệng cười lớn, lông mày mở,
Đạo mà là niềm vui thích trong lòng thì nó sẽ để hết vào ý chí.
Gặp được thánh hiền, minh quân, biết báo đền thế nào?
Thơ hay dâng vua chúc thọ cùng núi nước Nam.
 
Dịch thơ:
 
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Nhâm Ngọ, ta năm mươi năm tuổi.
 
Năm nay đã đến năm nhăm lẻ
Lại thấy một phen tân vũ trụ
Chén rượu mừng xuân bách diệp hương
Ngắm hoa thơm ngát mưa mai đổ
Cảnh xuân tuyệt sắc miệng cười tươi
Đạo vốn tại tâm sinh ý tứ
Gặp thánh hiền minh chửa báo đền
Đọc thơ kính chúc Nam sơn thọ.
 
                                            Đặng Văn Sinh dịch
 
 
 
行 年
時 蓋 甲 申 之 五 十 七 歲 也. 是 歲 生 女.
 
壽 紀 六 旬 餘 有 七,
功 加 積 久 勤 佔 畢.
攔 班 華 鬢 幾 星 星,
藻 雪 新 心 常日 日.
進 閫 期 超 夢覺 開,
如 綠 敢 語 文 章 筆.
年 來 喜 見 色 生 春,
樹 樹 開 花 同 結 實.
 
Phiên âm:
 
HÀNH NIÊN
Thời cái Giáp Thân thân chi ngũ thất tuế dã. Thị tuế sinh nữ.
 
Thọ kỉ lục tuần dư hữu thất,
Công gia tích cửu cần chiêm tất.
Lan ban hoa mấn kỷ tinh tinh,
Tảo tuyết tân tâm thường nhật nhật.
Tiến khổn kỳ siêu mộng giác khai,
Như lục cảm ngữ văn chương bút.
Niên lai hỷ kiến sắc sinh xuân,                                                                    
Thụ thụ khai hoa đồng kết thực.
 
Dịch nghĩa:
 
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Giáp Thân, ta năm mươi bảy tuổi.
Là năm sinh được con gái.
 
Năm nay ta năm mươi bảy mươi tuổi,
Việc nhà chất chồng lâu cần thường xuyên làm cho xong hết.
Ngày xưa vẻ đẹp văn chương theo thời gian nối nhau không dứt
Sửa đổi tâm cho trong sạch, không vẩn đục là việc nên làm thường xuyên, hàng ngày.
Nỗ lực mong vượt qua được ngưỡng cửa, đạt được giấc mộng thành người hiền trí,
Ngày tháng vui mừng dám nói chuyện văn chương.
Năm đến gặp niềm vui, vẻ mặt thêm rạng rỡ,
Cây cối nở hoa đều kết trái.
 
Dịch thơ:
 
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Giáp Thân, ta năm mươi bảy tuổi,
là năm sinh được con gái.
 
Đã quá ngũ tuần dư bảy tuổi
Việc nhà trăm thứ thường dồn đuổi
Văn chương cùng mãi với thời gian
Khổ luyện lòng ta không ám muội
Hiền trí luôn mong giấc mộng thành
Vui vẻ mới nói văn chương sự
Năm nay, việc tốt sắc xuân tươi
Thảo mộc khai hoa đều kết trái
 
                                            Đặng Văn Sinh dịch
 

 


([1])Chi lan: vốn là hai loại cỏ rất thơm, tượng trưng cho cái thơm, thảo, tốt lành bền vững. Gia ngữ: Dữ thiện nhân cư như nhập chi lan chi thất(Ở với người tốt như vào nhà có cỏ lan cỏ chi)(theo Nguyễn Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên -Từ điển điển cố văn học, Nxb Văn học, H, 1997, trang 544).
([2]) Càn Khôn: là tên hai quẻ trong kinh dịch. Càn tượng trưng cho trời, khôn tượng trưng cho đất. Càn tạo ra vạn vật ở vô hình, thuộc phần khí; nhưng phải nhờ khôn thì vạn vật mới hữu hình, mới sinh trưởng, cho nên công của khôn cũng lớn như công của càn, chỉ khác khôn phải ở sau càn, tùy theo càn, bổ túc cho càn. Càn tượng trưng cho người quân tử, người quân tử có bốn đức: nhân, nghĩa, lễ, trí. Người quân tử học theo quẻ khôn thì phải tùy thuộc vào người trên thì làm việc gì cũng đừng nên khởi xướng để khỏi lầm lẫn, chờ người ta khởi xướng rồi mới theo thì sẽ được việc, đi về phía tây nam thì được bạn, về phía đông bắc thì mất bạn, an lòng giữ đức bền vững, tốt. Như vậy là có đức dày như đất, chở được muôn vật, lớn cũng không kém đức của trời(càn): “Quân tử dĩ hậu đức tải vật”, đó là bài học rút ra từ quẻ Khôn, cũng như “Quân tử dĩ tự cường bất túc” là bài học rút ra từ quẻ Càn. Theo quẻ Khôn thì người quân tử nên an lòng, giữ đức bền vững, thuận tòng thì tốt.(theo Nguyễn Hiến Lê -Kinh dịch đạo của người quân tử, Nxb Văn học, 1992, trang 195+196)
([3])Chi lan: vốn là hai loại cỏ rất thơm, tượng trưng cho cái thơm, thảo, tốt lành bền vững. Gia ngữ: Dữ thiện nhân cư như nhập chi lan chi thất(Ở với người tốt như vào nhà có cỏ lan cỏ chi)(theo Nguyễn Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên -Từ điển điển cố văn học, Nxb Văn học, H, 1997, trang 544).
([4]) Phúc tinh: vì sao tốt, người cứu tế chúng sinh, vận may.
([5]) Huy quang: làm nên vẻ vang.
([6]) Vũ trụ: bốn phương và trên dưới là vũ trụ, xưa qua nay là vũ trụ, không gian và thời gian = thế giới.