(Thứ hai, 09/02/2026, 08:47 GMT+7)

 

Tiến sĩ Phùng Thảo

Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng họ Phùng Việt Nam

 

Tiến sĩ Phùng Thảo

 
 
PHẦN MỞ ĐẦU
 
“Dòng họ là hiện tượng lịch sử - xã hội của xã hội loài người. Dòng họ xuất hiện trước khi xã hội phân chia thành xã hội có giai cấp. Đến giai đoạn xã hội phát triển ở trình độ cao, trong xã hội không còn giai cấp, nhà nước tự tiêu vong như Các Mác và Ăng - Ghen đã tiên đoán, thì dòng họ với tư cách là hiện tượng lịch sử - xã hội, là dòng chảy liên tục, phát triển không ngừng, tồn tại độc lập, đó là quan hệ giữa bố mẹ với con cái; giữa cụ kỵ, ông bà với cháu chắt. Thời đại cổ xưa, nhân loại đã trải qua chế độ mẫu hệ, trong đó hôn nhân là chế độ ngoại tộc quần hôn. Bố đẻ ra con không biết con mình là ai và con cũng không biết ai là bố của mình. Con đẻ ra do mẹ nuôi dưỡng và chỉ sống với mẹ. Đó là nguyên nhân tạo ra chế độ mẫu hệ. Xã hội phát triển đến giai đoạn chín muồi, vai trò phụ hệ thay thế quyền lực của mẫu hệ... Theo đó, khẳng định vai trò, vị trí, địa vị người đàn ông trong gia đình cũng như trong xã hội. Đàn ông trở thành trụ cột trong gia đình, con sinh ra mang họ bố.”
Dòng họ ở nước ngoài:Các nước trên thế giới từ châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, châu Úc, nước nào cũng có nhiều dòng họ.
 - Điển hình xã hội Trung Quốc, một cường quốc lớn có số dân đông nhất thế giới nằm kề sát Việt Nam, từ xa xưa người Trung Quốc đã rất quan tâm đến dòng họ, người Trung Quốc đã đặt ra chữ “Thị” để đàn ông khi là “quí công đức, tiện kỹ lực”, lấy chữ quan làm “họ” hoặc lấy nghề nghiệp làm họ. Con của bậc Vương giả thì gọi là Vương tử, cháu của bậc Vương giả là Vương tôn... vào đời Thương, đời Chu những đại phu có ấp thì lấy tên ấp làm họ, con cháu thì lấy tên đất làm họ. Người Trung Quốc coi trọng dòng “họ” là do ảnh hưởng của “kính tông pháp tổ” của nho gia, việc coi trọng dòng họ của người Trung Quốc có quan hệ chặt chẽ với việc coi trọng tổ tông. Có ý kiến cho rằng, Trung Quốc có hơn 1000 họ.
- Hàn Quốc có 274 họ, trong số các dòng họ trên lại chia ra làm 3.435 phái.
- Anh quốc có 16.000 họ.
- Nhật Bản có 100.000 họ......


PHẦN I. DÒNG HỌ VIỆT NAM VÀ HỌ PHÙNG
 

  1. DÒNG HỌ Ở VIỆT NAM:

Việt Nam hiện nay có bao nhiêu dòng họ? Chưa có câu trả lời chính thức của các cơ quan có thẩm quyền. Trong bài viết này, có thể dẫn ra một số kết quả nghiên cứu ban đầu về dòng họ Việt Nam để mọi người cùng suy ngẫm và tham khảo.
- P. Gourou tác giả người Pháp (tài liệu hiện lưu giữ tại Viện Bắc Cổ Viễn Đông Việt Nam năm 1930) nhận xét rằng: Tổng cộng các dòng họ ở Việt Nam có khoảng 800 họ, trong đó người Kinh chiếm gần 202 họ.
- Dã Lan Nguyễn Đức Dụ trong cuốn gia phả - khảo luận và thực hành, ông ước tính rằng: Việt Nam “có khoảng 300 họ”.
- Tài liệu của Viện Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 1994 chép rằng: Việt Nam có 54 dân tộc thì dòng họ có 964, riêng người kinh có 165 họ, nhưng chiếm tới 90% dân số.
- Tác giả Phạm Côn Sơn tạm kê trong sách Tông phả kỷ yếu tân biên xuất bản năm 2006. Những họ có ở Việt Nam từ xưa tới nay là 576 dòng họ (đối chiếu số dòng họ do tác giả Phạm Côn Sơn công bố trong cuốn sách nói trên, so với niên giám thống kê của Nhà nước các năm 2004 - 2005, năm 2009 và năm 2016 - 2021 thì còn đến 247 dòng họ có mặt tại Việt Nam được bầu làm chủ tịch xã, phường được công bố nhưng chưa có tên trong cuốn sách của tác giả Phạm Côn Sơn).
- Chương trình VTV3 của Đài truyền hình Việt Nam, buổi phát sóng hồi 17 giờ ngày 16 tháng 5 năm 1999 công bố: Cả nước có 964 họ (báo QĐND cuối tuần 13/3/2003).
- Theo cuốn sách Họ và tên người Việt Nam của tiến sỹ Lê Trung Hoa, tên các họ của 54 dân tộc Việt Nam là 942 họ;
- Theo tài liệu của Ban liên lạc các dòng họ Việt Nam và Báo Khoa học đời sống số xuân Nhâm Dần 2010, đến cuối thế kỷ XX, người Kinh có 185 dòng họ, trong đó:
+ Họ Nguyễn 38%; Họ Trần 11% ; Họ Hoàng 5,1%; Họ Phạm 5%; Họ Phan 4,5%; Họ Vũ - Võ 3,9%; Họ Đặng 2,1%; Họ Bùi 2%; Họ Đỗ - Đậu 1,4%; Họ Hồ 1,3%; Họ Ngô 1,3% Họ Dương 1,0%.
- Một nghiên cứu khác cho biết, những người mang cùng một họ như: Nguyễn, Lê, Trần...chưa chắc đã là đồng tông và ngược lại, có thể những người mang họ khác nhau đang tồn tại hiện nay nhưng lại có chung một ông tổ. Kết quả nghiên cứu về họ Mạc gần đây cho thấy:
Họ Mạc đã có những người đổi sang các họ sau đây: Phạm, Vũ, Trần, Thái, Phan, Hồ, Nguyễn, Khoa, Hoàng, Đỗ, Lê, Huỳnh, Đặng, Bùi, Chử, Nông...
Nguyễn Trãi được ban quốc Tính Lê Trãi.
Hồ Quí Ly làm con nuôi nhà Lê Huấn đổi sang họ Lê, nhưng đến năm 1400 cướp được ngôi nhà Trần, Quí Ly lại trở lại họ Hồ.
Lý Thường Kiệt vua ban quốc tính họ Lý, nhưng ông có họ gốc là Ngô.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đã có đến hơn một trăm họ và tên bút danhvà bí danh khác nhau (175 họ tên), xin dẫn ra một số họ và tên của Bác: Năm 1890 tại làng Hoàng Trù nay là làng Kim Liên Bác có tên khai sinh: Nguyễn Sinh Cung, năm 1901tại làng Kim Liên Bác có tên Nguyễn Tất Thành, năm 1919 tại Pháp có tên Nguyễn Ái Quốc, năm 1924 tại Trung Quốc có tên Lý Thụy, năm 1926 tại Quảng Châu Trung Quốc có tên Tống Thiệu Tổ, năm 1931 tại Quảng Châu Trung Quốc có tên Tống Văn Sơ, năm 1938 tại Trung Quốc có tên Hồ Quang, năm 1940 tại Vân Nam Trung Quốc có tên Ông Trần, năm 1941 có tên Hoàng Quốc Tuấn, ngày 13 tháng 8 năm 1942 tại Trung Quốc có tên Hồ Chí Minh, năm 1945 có tên Hồ Chủ Tịch, và còn nhiều họ tên khác nữa của Bác không thể thống kê trong cuốn sách này, nhưng tên cuối cùng khi trở thành vị Chủ Tịch nước Việt Nam Bác đã lấy tên là Hồ Chí Minh (Nguồn: Nhà văn hóa thanh niên điểm hẹn tuổi trẻ, Nhà văn hóa sinh viên thành phố Hồ Chí Minh).
Chủ tịch nước Trường Chinh họ và tên là Đặng Xuân Khu, nhưng gốc là họ Trần (Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, và sách thân thương cuộc đời, NXBVH 2012).
Chủ tịch HĐBT, Tổng Bí thư Đảng CSVN ĐỗMười họ và tên thật là Nguyễn Duy Cống. (Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).
Ủy viên Bộ Chính trị, trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Đức Thọ họ và tên thật là Phan Đình Khải. (ông Thọ có hai người em ruộtlà: Thượng tướng QĐND Việt Nam Đinh Đức Thiện nhưng họ gốc là Phan Đình Dinh, Đại tướng Công an Mai Chí Thọ có họ gốc Phan Đình Đống, con trai cả của ông Lê ĐứcThọ là Phan Nghĩa Dũng và con trai thứ là Lê Nam Thắng. Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).
Chủ Tịch Đoàn UBTƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hoàng Quốc Việt có họ và tên thật là Hạ Bá Cang. (Nguồn: Cổng thông tin điện tử Viện Kiểm sát nhân dân tối cao).
 Phó thủ tướng Lê Thanh Nghị họ gốc Nguyễn Khắc Xứng (Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).
 Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Văn Tiến Dũng có họ gốc là Hoa (cụ tổ Đại tướng Văn Tiến Dũng là cụ Hoa Duy Thành, Đô đốc Quận công triều Trần, cụ đã cùng Trần Quốc Tuấn và các tướng sĩ đánh thắng quân Nguyên trên dòng sông Bạch Đằng lịch sử, quê gốc cụ Hoa Duy Duy Thành ở trang Linh Động, quận Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương nay là thôn Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng). (Nguồn: Báo Tiền Phong ngày 11-12-13/5/2008).
 Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên họ gốc Nguyễn Hữu Vũ. (Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
 Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch có họ và tên là Phạm Văn Cương. (Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).
 Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin Trần Hoàn họ gốc Nguyễn Tăng Hích. (Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).
 Viện sĩ Trần Đại Nghĩa họ gốc Phạm Quang Lễ (Nguồn: Tên do Bác Hồ đặt).
 Đại tướng Lê Văn Dũng họ gốc Nguyễn văn Nới. (Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)...
 Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, có những ngườimang họ Phùngnhưng gốc lại là họ khác,và ngược lại có người gốc là họ Phùng nhưng lại mang dòng họ khác. Sau đây xin dẫn một vài ví dụ:
Ông Phùng Chí Kiên họ gốc Nguyễn Vĩ.(Phùng Chí Kiên sinh ngày 18 tháng 5 năm 1901 tại Nghệ An, Ông có tên thật là Nguyễn Vĩ, ông cùng thế hệ với các ông Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Lương Bằng (1904-1974), Nguyễn Đức Cảnh (1908-1932), Phan Đăng Lưu (1902-1941, Hồ Tùng Mậu(1896-1951),Võ Văn Tần (1894-1941), Hoàng Văn Thụ (1906-1944), Ngô Gia Tự (1908-1935), Hoàng Quốc Việt (1905-1992),Phạm Hồng Thái, các ông thuộc bậc tiền bối cách mạng.Năm 1926Nguyễn Vĩhoạt động cách mạng tại Trung Quốc lấy tên là Phùng Chí Kiên,với ý nghĩa làlà “sự tương Phùng hội ngộ, sự gặp gỡ giữa chí khí và lòng trung kiên”. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930, là cán bộ được đào tạo rất cơ bản, năm 1926 học tại trường quân sự Hoàng Phố Trung Quốc, tháng 2 năm 1931 học tại trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Liên Xô. Ông được phân côngTrưởng Ban chỉ huy hải ngoạiĐảng Cộng sản Đông Dương tại nước ngoài.
Phùng Chí Kiên tham gia Hồng quân Công NôngTrung Quốc với cương vị Đại đội trưởng, ông nổi tiếng là người chỉ huy tinh tế, nhạy bén, ứng phó linh hoạt khi xử trí các tình huống chiến đấu,ngày 12 tháng 12 năm 1927 ông tham gia cuộc bạo động ở Quảng Châu do Đảng Cộng Sản Trung quốc lãnh đạo.
Tháng 3 năm 1935 ông tham dự Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dươngở Ma cao Trung Quốc, Đại hội đã bầu ông làm Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Trung ương. Năm 1936 ông về Sài Gòn cùng ông Hà Huy Tập chỉ đạo Cách mạng trong nước, sau đó quay lại Trung Quốc chỉ đạo công tác Đảng ở nước ngoài. Năm 1940 ông về Côn Minh Vân Nam làm việc cùng Ông Trần (Hồ Chí minh), ngày 28 tháng 1 năm 1941 ông cùng lãnh tụ Hồ Chí Minh về Bắc Bó Cao Bằng, tại đây Bác Hồ đã phân công ông soạn thảo tài liệu và tham gia huấn luyện cán bộ Việt Minh. Tháng 5 năm 1941, ông tham gia Hội nghị Trung ương 8, là Ủy viên Trung ương phụ trách quân sự, trực tiếp chỉ đạo căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, trung đội Việt Nam cứu quốc quân 1. Ngày 19 tháng 8 năm 1941, cánh quân do Phùng Chí Kiên và Lương văn Chi Ủy viên Thường vụ xứ ủy Bắc Kỳ chỉ huy qua Pò Kép (Na Rì Bắc Kạn) bị địch phục kích, đơn vị thoát vây. Ngày 21 tháng 8 năm 1941 đơn vị lại bị phục kích tại xã Bằng Đức. Bọn Châu đoàn phản động huy động lĩnh dõng khép kín vòng vây. Ông Lương văn Chi bị thương chúng bắt về giam ở cao bằng và hy sinh trong tù. Mặc dù bị thương nặng, ông Phùng Chí Kiên vẫn giữ chặt khẩu súng, bắn chặn quân địch để đồng đội thoát vây. Bắn đến viên đạn cuối cùng, Phùng Chí Kiên sa vào tay giặc. Bọn Châu đoàn lệnh cho lũ tay sai hành hung dã man, Phùng Chí kiên đã kiên trì giải thích: “Chúng tôi là người yêu nước đi đánh Pháp đuổi Nhật để giải phóng đồng bào. Chúng ta là người Việt Nam, cần phải đoàn kết chống kẻ thù chung”. Lời giải thích đã làm xiêu lòng một số lính dõng, nhưng bọn Châu đoàn gian ác đã chặt đầu ông đem nộp cho quân Pháp để lấy thưởng. Bọn Pháp đem đầu ông cắm ở đầu cầu Ngân Sơn để uy hiếp tinh thần cán bộ và nhân dân ta. Hôm đó là ngày 22 tháng 8 năm 1941, khi đó ông Phùng Chí Kiên tròn 40 tuổi.
 Phùng Chí Kiênlà vị tướng được truy phong đầu tiên của QĐND Việt Nam, theo sắc lệnh số 89/SLdo Chủ Tịch nước Hồ Chí Minh ký ngày 23 tháng 9 năm 1947, ông nguyên là Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương khóa I.
Tháng 11 năm 2003,ông Phùng Chí Kiên được Đảng, Nhà nước quyết định công nhận nguyên là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng khóa I, cán bộ lãnh đạo cấp tướng, liệt sĩ hy sinh trong chiến đấu. “Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có thư gửi Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Đại tướng Phùng Quang Thanh với nội dung: Tôi vừa nhận được công văn của tỉnh ủy Nghệ An và Bộ Tư lệnh Quân khu IV đề nghị vấn đề làm nhà lưu niệm đồng chí Phùng Chí Kiên và cho biết trước đây đã có công văn gửi đến Bộ Quốc phòng và Bộ Văn hóa Thông tin…
Đồng chí Phùng chí Kiên là vị tiền bối cách mạng, một lãnh đạo cao cấp của Đảng, được Bác Hồ và Trung ương phân công phụ trách quân sự đầu tiên. Đồng chí là một cán bộ đức độ và tài năng cả chính trị và quân sự, nhạy bén phát hiện tình hình, sống gần gũi hòa mình với đồng chí đồng bào, nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị của Bác và Trung ương. Đồng chí Phùng Chí Kiên đã có công lao to lớn đối với Đảng ta. Năm 1947 Bác Hồ đã ký quyết định truy phong hàm tướng đầu tiên cho đồng chí. Đây là lần phong hàm cấp tướng đầu tiên của quân đội Việt Nam. Do khuyết điểm về công tác chính sách nên đến ngày 10/11/2003 Nhà nước mới công nhận ông Kiên là liệt sĩ, nhận Bằng Tổ quốc ghi công và chỉ truy tặng Huân chương Chiến công Hạng Ba. Ông Kiên đi làm cách mạng từ nhỏ, không vợ con gia đình, nay chưa có nơi thờ tự”
 Đại tướng Võ Nguyên Giáp nêu ba đề nghị:

  • Chính phủ cấp kinh phí giao cho Bộ Quốc phòng chỉ đạo Quân khu IV, Tỉnh Nghệ An tiến hành xây dựng khu lưu niệm đồng chí Phùng Chí Kiên.
  • Tổ chức hội thảo để tôn vinh công lao của đồng chí Phùng Chí Kiên.
  • Đề nghị đi tìm phần đầu của đồng chí Phùng Chí Kiên”.

Ghi nhớ đức tài, công lao to lớn của vị tướng đầu tiên bất tử của quân đội nhân dân Việt Nam, bậc tiền bối cách mạng Việt Nam, người cộng sản mẫu mực, kiên trung, nhà Chính trị, quân sự song toàn, một chiến sĩ cách mạng quốc tế, một nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng, người học trò ưu tú xuất sắc của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, người anh hùng thời chiến, tên ông Phùng Chí Kiên đã được đặt cho tên xã, tên phường, tên trường, tên đường phố ở nhiều địa phương trong cả nước như: Hà Nội, Vinh, Đồng Hới, Huế, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hải Dương, Lào Cai, Lạng Sơn, Thành phố Hồ Chí minh, gần đây ở thành phố Hải Phòng đã đặt tên phố Phùng Chí Kiên…
(Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn, Thư gửi Hội thảo khoa học về đồng chí Phùng Chí Kiên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - QĐND 17/8/2008, Phùng Chí Kiên vị tướng bất tử của quân đội ta - Tạp chí Hướng nghiệp và Hòa nhập số 12/2011, Liệt sĩ Phùng Chí Kiên chưa được…liệt sĩ - Báo Lao Động 27/7/2003, Vẫn chờ cấp trên Báo Lao động 27/4/2004, cuộc vượt vây của đội công tác Phùng Chí Kiên Nguyệt san Sự kiện và nhân chứng QĐND số 152 tháng 8/2006, Kỷ niệm 110 năm ngày sinh đồng chí Phùng Chí Kiên Báo Nhân Dân 13/5/2011, Khúc bi tráng của vị tướng đầu tiên Báo Tiền Phong 18/9/2008).
Nghệ sĩ Nhân dân Phùng Hácó họ gốc là Trương Phụng Hảo (bà Phùng Há sinh ngày 30 tháng 4 năm 1911 tại Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Thân phụ bà là người Trung Quốc sang Việt Nam kinh doanh và cưới vợ người Việt Nam ở xã Điều hòa Mỹ Tho trong khi ông đã có vợ.
Nghệ sĩ Nhân dân Phùng Há là ngôi sao sáng nghệ thuật, ngôi sao cải lương Nam Bộ từ thời còn niên thiếu. Giáo sư Trần Văn Khê nhận xét: Bà “Giống như một ngôi sao đang còn tỏa rạng trên bầu trời đêm thăm thẳm, nền trời càng sâu hút thì thứ ánh sáng phát ra từ ngôi sao đó càng ngày càng lấp lánh”. Nhà báo Hòa Bình với bài viết về vị tổ của cải lương đã khẳng định: “Với trăm năm tuổi của mình, bắt đầu ca hát từ năm 13 tuổi, NSND Phùng Há gắn trọn đời mình với hơn 80 năm lịch sử hình thành và phát triển nghệ thuật cải lương - Bà có 50 năm làm đào chánh đắt giá, chủ những đoàn hát Huỳnh Kỳ, Vân Hảo, Hảo Cúc Lan,…cùng những vai diễn lẫy lừng trong Đời Cô Lựu, Mộng Hoa Vương, Vợ và tình, Dương Quý Phi, Phụng Nghi Đình…vang danh từ Sài Gòn ra Hà nội sang cả Pháp…” (Nguồn: Sách Cuộc đời và sự nghiệp, NXBVH, tác giả Nguyễn Thanh Nhã, năm 2011).
 Nguyễn Vạn họ gốc Phùng Lưu, khi tham gia hoạt động cách mạng ông đã đổi sang họ Lê Bốn sau đó là Nguyễn Vạn (ông Lưu là lão thành cách mạng, chiến sĩ cách mạng trong phong trào Dân chủ 1936 - 1939, Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (Nguồn: Phùng Quán Ba Phút Sự thật. NXBVN. Năm 2006).
Viện sĩ Điêu khắc gia - TS Bác sĩ Điềm Phùng Thị họ gốc Phùng Thị Cúc. Vì chồng bà họ Nguyễn tên Điềm (ở châu Âu, người đàn bà khi lấy chồng phải lấy tên chồng đặt trước họ và tên mình. Bởi vậy Điềm đặt trước Phùng Thị và được gọi là Điềm Phùng Thị). Bà Cúc là con gái Tham tri Phùng Duy Cần thời Nguyễn, em gái Vụ trưởng Vụ Thể thao quốc phòng Phùng Duy Phiên (Nguồn: Sách Chuyện Quý bà giữa đời thường và trong cung cấm. Nguyễn Đắc xuân. NXBPN. Năm 2011).
Thiếu tướng Anh hùng LLVT QĐND Nguyễn Quang Bích là họ mẹ, còn họ bố là Phùng. Năm 2018, tác giả đã đến thăm gia đình Thiếu tướng Anh hùng LLVT QĐND Nguyễn Quang Bích tại tư gia của ông, ngõ số 9 phố Liễu Giai, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Phu nhân Thiếu tướng Nguyễn Quang Bích tiếp tác giả cởi mở. Tôi hỏi phu nhân thiếu tướng tại sao ông Bích lại có họ và tên Nguyễn Quang Bích? Phu nhân Thiếu tướng bà Đinh thị Kim Thoa cho biết: Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, khi làm hồ sơ của chồng bà, tổ chức ghi họ và tên Nguyễn Quang Bích, ông Bích quan niệm họ Nguyễn là họ mẹ của mình. Vì vậy, ông Phùng Quang Bích không đề nghị tổ chức sửa hồ sơ đổi từ họ mẹ sang họ họ bố. Từ đó ông có họ và tên Nguyễn Quang Bích.