Tiến sĩ Phùng Thảo
Phó Chủ tịch Hội đồng họ Phùng Việt Nam
Tiến sĩ Phùng Thảo
6- Đình Quảng Bá, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
Đình Quảng Bá thờ Bố Cái Đại Vương làm Thành Hoàng làng cùng các vị tướng đều ghi mỹ tự:
- Ninh Khiết thông tuệ thuần chính quang túc tập phúc quang nhị đốc bách tối linh đại vương.
- Từ Tổng quản bình trung trong tiết dịch uy tương chính quang ý Đại Vương.
- Triều đình cương nghị nhân huệ phổ tế hồng tranh thông ninh công chính tối linh đại vương.
- Cẩn giang thân nhân hậu trạch cương nghị quả đoán hùng uy đại vương.
- Tây Hồ thân nhân hậu trạch cương nghị quả đoán hùng uy đại vương.
Quảng Bá cũng ghi dấu tích một doanh trại chủ tướng của Phùng Hưng đóng quân. Ở đây còn lưu truyền những địa danh:
- Bến Trùm (nơi quân lính tắm).
- Gò Con Mộc (nơi tập trận bằng mộc khiên).
- Gò Lá Cờ (nơi cắm cờ tập trận).
Khoảng năm Đinh Mùi 767 niên hiệu Đại Lịch thời Đường, ở ngoại thành có nạn Côn Lôn, Đồ Bà quấy nhiễu. Cao Chính Bình sang cứu Trương Bá Nghi,… Chính Bình làm càn… vua Đường sai Trương Ứng sang, Bình đánh thuốc độc giết chết Ứng… bọn tả hữu Lã Nguyên Khánh, Hồ Hoài Nghĩa trốn về ăn nằm ở căn cứ của Phùng Hưng, dựa vào Phùng Hưng đánh lại Bình. Vua Đường sai Lý Phục sang dẹp bọn Khánh, Nghĩa. Phùng Hưng Hơn 20 năm khởi nghĩa, kháng chiến chờ đến năm 791 dùng kế Đỗ Anh Hàn lật đổ Cao Chính Bình. Phùng Hưng cùng em thu phục các ấp lân cận.
Chia nhau giữ các nơi hiểm yếu, tích lương thảo và nuôi quân, khí thế rất mạnh, Chính Bình rất lo lắng đem quân đi đánh nhưng không dẹp được. Năm tháng thoi đưa đã hơn 20 năm hai bên cầm cự không phân thắng bại.
Năm Tân Mùi 791 niên hiệu Trinh Nguyên, Chính Bình cai trị tàn bạo, thuế khóa nặng nề, trăm họ không chịu được sự tàn bạo, lòng người đang lúc sôi sục, Phùng Hưng họp các tướng bàn kế công thủ, đánh bại Chính Bình, chiếm phủ trị… Phùng Hưng vào thành đem gia thuộc của Chính Bình giết đi, ông lên ngôi ngự trị không được bao lâu thì bị bệnh mất.
Các tướng muốn lập Phùng Hải nối ngôi nhưng có một Đại thần là hạng đầu mục tên là Bồ Phá Lặc quyết không theo rồi đưa người con trai Phùng Hưng là Phùng An nối ngôi và đem quân chống lại Phùng Hải. Phùng Hải than rằng: “Chung sức xây dựng cơ đồ đã 20 năm, không ngờ ngày nay lại xảy ra việc này. Có lẽ ý trời chưa muốn cho Việt Lạc được bình trị và lại cốt nhục tương tàn là điều chẳng lành”. Người trong nước đều khen việc làm này.
Phùng An bèn tôn hiệu thụy là Bố Cái Đại Vương.
Tháng 5 năm ấy nhà Đường đặt nhu viễn quận ở phủ thành cử Triệu Xương làm Đô hộ. Triệu Xương dụ Phùng An ra hàng, cho An làm Phủ Tư mã để vỗ về dân chúng. Đỗ Anh Nho không nghe, Triệu Xương đem giết đi.
Các triều đại Ngô, Trần, Lê, Nguyễn đều ca ngợi Bố Cái Đại Vương: Năm đầu đời Trung Hưng (Trần Nhân Tông 1285) sắc phong là Phụ Hựu Đại Vương; Năm Trung Hưng thứ 4 gia tăng là: Chương Tín Đại Vương;
Phùng Hưng dấy nghiệp từ năm Đinh Mùi hiệu Đại Lịch năm thứ hai (767) đời Đường Đại Tông đến năm Tân Mùi (791) niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ 7, cả thảy 25 năm thì kết thúc.
Ngày Hội tế cờ ở đình Quảng Bá vào ngày 12 tháng 2 và ngày 10 tháng 8.
- Đình được xếp hạng cấp quốc gia
Đình Quảng Bá, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
7-Đình Nghi Tàm thuộc thôn Nghi Tàm, xã Quảng An, quận Tây Hồ thành phố Hà Nội
Đình thờ 5 vị thành hoàng là những tướng tài của Phùng Hưng. 5 vị thành hoàng là: Lỗ Quốc Thái sư, Minh Khiết Đại vương, Bảo Trung cương đoán, Hoàng Hiệp Tây hồ, Quỳnh Hoa Đoan trang.
8- Đình Thịnh Hào, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Đình Thịnh Hào là nơi thờ tự, tưởng nhớ công lao của Phùng Hưng Thành Hoàng làng. Tương truyền và theo các cụ cao lão trong làng, vào năm 776, khi Phùng Hưng mang quân vào thành, đã lệnh cho nghĩa sĩ đóng quân tại làng Phùng Khoang và làng Thịnh Hào. khi Ngài mất, làng Thịnh Hào cùng với với một số nơi trong cả nước đã cảm phục ân đức, nghĩ tới công lao của Ngài đã lập miếu thờ phụng muôn đời. Thịnh Hào nguyên là một trong các phường trại họp thành tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận. Đây là cửa ô quan trọng án ngữ phía Nam của kinh thành Thăng Long.
Theo bia ký của đình, Phùng Hưng vào phủ đô hộ, nắm quyền cai trị được 7 năm thì mất.
Phùng An lên nối ngôi, đem quân đánh Phùng Hải. Phùng Hải sợ Bồ Phá Cần nên lánh vào động Chu Nham, sau không biết đi về đâu.
Phùng An tôn Phùng Hưng làm Bố cái Đại Vương.
Sau hai năm vua Đường Đức Tông sai Triệu Xương sang làm đô hộ nước ta, Triệu Xương tới nơi trước hết cho sứ giả mang lễ vật đến dụ dỗ Phùng An, Phùng An xin hàng. Từ đó họ Phùng tan tác mỗi người một nơi.
Đình được xếp hạng Di tích lịch sử cấp thành phố.
Hậu cung đình Thịnh Hào, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
9- Đình Kim Mã Hạ, phường Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Có ý kiến cho rằng đình Kim Mã hình thành thế kỷ 11 thuộc triều đại nhà Lý và là một trong Thập tam trại (13 trại) ở phía tây của kinh thành Thăng Long. Có ý kiến đình tồn tại thừ thời Lê Trung Hưng.
Theo thần tích, Phùng Hưng là người Đường Lâm thuộc huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây, xứ Giao Châu.
Vào năm 766-799 phất cờ khởi nghĩa. Dấy cờ tự xưng là Đô Quân. Cuộc chiến kéo dài hơn 20 năm.
Sắc phong thần cho Bố Cái Đại Vương của triều đại Tây Sơn vào năm Nhâm Tý (1792).
Thần tích đình làng Kim Mã Hạ có ghi:
- Ngày 10 tháng Giêng là ngày tức vị Đức thánh Phùng Hưng.
- Ngày 12 tháng 2 là ngày sinh Đức thánh Phùng Hưng.
- Ngày 13 tháng 8 là ngày hóa Đức thánh Phùng Hưng.
- Sau khi chiếm phủ trị, Phùng Hưng vào thành nắm quyền cai trị 7 năm.
- Tôn hiệu, Mỹ hiệu: Ngài có tên tự là Công Phấn, sau đổi là Cự Lão. Khi mất tôn hiệu là Bố Cái Đại Vương.
Các triều đại: Trần Nhân Tông (1285): sắc phong “Phù Hựu đại vương”. Năm Trùng Hưng thứ tư (1288) gia phong thêm hai chữ “Chương Tín”. Đời vua Trần Minh Tông niên hiệu Hồng Đức thứ 4 (1473) tôn phong Phùng Hưng là “Thượng đẳng thần”. Đời nhà Nguyễn gia tặng “Dực bảo Trung hưng, linh phù tôn thần”.
Sách Việt giám thông khảo tổng luận của sử thần triều Hậu Lê là Lê Tung có viết: “Phùng Bố Cái là người anh hào ở Đường Lâm, ghét sự tàn ngược của Chính Bình, anh em thừa thời trỗi dậy, cứu dân dẹp loạn, ban đức lập công, có thể gọi là vị vua nhân hậu”.
- Lịch triều hiến chương loại chí: “…đều đáng khen là hào kiệt”.
- Đình được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.
Đình Kim Mã, phường Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
10- Đình Y Sơn, phường Đồng Mai, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Theo bia ký ở đình, ngày sinh của Phùng Hưng: Giờ Tý ngày 25 tháng 11 năm Bính Tý (736).
Ngày mất: ngày 13 tháng 8 năm Mậu Thìn (788).
Đại lễ tế cờ xuất quân tại bản doanh trên Gò Lĩnh Hán vào ngày 12 tháng 2 năm Tân Dậu (781). Vào năm 766-779, Giao Châu có loạn, Phùng Hưng hàng phục được các ấp bên cạnh, Hưng xưng Đô Quân, đánh nhau với Cao Chính Bình lâu ngày không thắng bại. Ông dùng kế của người làng là Đỗ Anh Hàn. Điều toàn bộ binh hùng tướng mạnh đến vùng phía tây nam phủ thành Tống Bình, thuộc cánh đồng Tráng khúc Giang (làng Triều Khúc ngày nay) cắm doanh hạ trại. Chia thành 6 đạo quân tiến về bao vây phủ thành, cuộc giáp chiến kéo dài 7 ngày đêm. Chính Bình chết quân lính ra hàng.
Vương vào thành vỗ về yên dân, sửa sang lại cung điện. Ngày 10 tháng Giêng năm Nhâm Tuất (782) vương cử hành lễ tức vị, đăng quang lên ngôi.
Vương trị vì được 7 năm thì băng hà.
Phùng An là con nối ngôi, tôn thân phụ làm “Bố Cái Đại Vương”. An nối ngôi được 3 năm. Tháng 7 năm Tân Mùi (791) Đường Đức Tông sai Triệu Xương sang làm An Nam Đô hộ phủ. Xương dụ, An ra hàng.
Đình được cấp bằng di tích lịch sử cấp quốc gia.
Tượng Bố Cái Đại Vương thờ tại đình Y Sơn
phường Đồng Mai, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
Đình Y Sơn, phường Đồng Mai, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
11- Đình Hoàng Cầu, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Đình Hoàng Cầu văn tự cũ còn có tên Cầu Khánh, phường Thịnh Quang, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên xưa. Đình thờ Đức Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng làm Thành Hoàng làng.
Theo thần tích tại đình, niên hiệu Đại Lịch của nhà Đường, nước ta rối loạn, Vương cùng hai em đem binh đi chinh phục khắp các vùng ở lân cận. Vương đổi tên là Cự Lão và xưng là Đô Quân, còn em Vương thì đổi tên là Cự Lực và xưng là Đô Bảo, hai anh em cùng nhau làm theo kế sách của một người cùng làng là Đỗ Anh Luân, đem đại binh đi tuần chú khắp các châu Đường Lâm và Trường Phong, uy danh lừng lẫy, khiến ai cũng phải theo phục. Sau hơn 20 năm khởi nghĩa, Phùng Hưng cùng nghĩa quân chiếm được phủ thành Tống Bình, quét sạch quân giặc ra khỏi bờ cõi. Ông lên ngôi, làm vua được 7 năm thì mất vào năm 791. Nhớ công đức đánh đuổi giặc ngoại xâm giành độc lập của Phùng Hưng, sau khi ông mất, nhân dân suy tôn ông là Vua Bố Mẹ “Bố Cái Đại Vương”.
Hai năm sau đó, vua Đường Đức Tông sai Triệu Xương sang làm đô hộ nước ta. Triệu Xương tới nơi, trước hết cho sứ giả mang lễ vật dụ dỗ Phùng An. Phùng An xin hàng phục.
Tại quận Đống Đa có 5 nơi thờ Phùng Hưng: Lăng Phùng Hưng thuộc phường Cát Linh; đình Thịnh Hào thuộc phường Hàng Bột; nghè Tây Hưng, đình Đông Các và đình Hoàng Cầu thuộc phường Ô Chợ Dừa. Ngoài đức Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, hiện nay ở đình Hoàng Cầu còn ngai và bài vị của 4 vị thần khác đó là:
- Hai vị thiên thần là Cao Sơn Đại Vương, vị thần Bạch Mã.
- Hai vị nhân thần là Phùng An và Bảo Hoa Nương Công Chúa là hai người con của Đức Phùng Hưng. Theo các cụ cao tuổi trong làng kể lại, bốn vị thần này vốn được thờ tại đình Đông Các. Sau này do đình Đông Các được sử dụng làm trụ sở công an phường, nhân dân đã rước ngai và bài vị về phối thờ tại đình Hoàng Cầu.
Lễ hội đình làng Hoàng Cầu diễn ra vào 2 dịp trong năm: ngày 12 tháng 2 và 12 tháng 8 hàng năm (12 tháng 8 ngày hóa).
Thần Hoàng làng đình Hoàng Cầu là anh hùng dân tộc, là nhân thần có công với nước với dân bảo hộ phù trì giúp dân đánh đuổi giặc ngoại xâm và giữ bình yên trong cuộc sống của nhân dân.
Đình Hoàng Cầu còn giữ 22 đạo sắc phong, trong đó có 7 sắc phong các triều đại cho Bố Cái Đại Vương, và 3 sắc phong cho Bảo Hoa Công nương Chúa là con gái Phùng Hưng.
Đình được cấp bằng Di tích lịch sử cấp quốc gia.
Đình Hoàng Cầu, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
12- Đình Đông Các Ô chợ Dừa Hà Nội Thờ Bố Cái Đại vương Phùng Hưng đã bị phá bỏ (xem đình Hoàng Cầu)
Hai trụ cổng đình còn sót lại của đình Đông Các đã bị dỡ bỏ (lúc đầu đình là nơi làm việc của công an phường, sau đình bị dỡ bỏ xây nhà như ảnh).
13- Đình Xuân Biểu, phường Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Dân làng Xuân Biểu trước kia gốc tích là dân làng Khán Xuân thuộc huyện Thọ Xương, sau này là phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận. Sở dĩ có tên gọi Khán Xuân vì đất thôn trải dài từ Khán Sơn đến Xuân Sơn. Làng Khán Xuân vốn có một ngôi đền thờ Bố cái Đại Vương (hiện nay vẫn còn di tích ở trong khuôn viên Bách Thảo là dấu tích còn lại của trại Khán Xuân xưa). Năm 1890, thực dân Pháp xây dựng Phủ Toàn quyền Đông Dương và vườn Bách Thảo, chúng đuổi toàn bộ dân ở khu vực này đi nơi khác. Dân Khán Xuân đã phiêu bạt ở nhiều nơi, có 10 gia đình của làng Khán Xuân chuyển đến ở cửa Ô Cầu Giấy, song vẫn giữ nếp xưa. Theo nội dung văn bia “Khán Xuân Trại” niên hiệu Bảo Đại 16 (1941), cho biết: Làng Xuân Biểu mới, đầu năm Canh Tý 1900, các cụ trong làng quyên góp mỗi gia đình 10 đồng, mỗi cửa hàng 20 đồng… Năm 1940, dân làng Xuân Biểu mời hai kiến trúc sư là ông Nguyễn Ngọc Ngoan và ông Nguyễn Xuân Tụng thiết kế xây dựng một ngôi đình to đẹp với giá trị 4.000 đồng. Kiến trúc được hai kiến trúc sư Ngoan và Tụng thiết kế chu Quán Sứ thiết kế giống chùa Quan Sứ Hà Nội
Đình Xuân Biểu thờ Phùng Hưng (766-791) làm Thành hoàng làng. Thần tích đình làng chép rằng: Vương họ Phùng tên Hưng, quê ở Đường Lâm, Ba Vì Hà Tây. Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-779) thời thuộc Đường, tên quan đô hộ Cao Chính Bình thi hành chính sách hà khắc, dân khổ vì sưu cao thuế nặng. Ông bèn chiêu mộ quân lính nổi dậy khởi nghĩa, Đánh đổ Cao Chính Bình, Phùng Hưng vào phủ thành giữ quyền trị nước được 7 năm thì mất (791). Nhân dân địa phương cảm mộ ân đức, dựng đền thờ gọi là Tây cung.
Phùng An nối ngôi, tôn cha làm Bố Cái Đại Vương. Năm 791, nhà Đường sai Triệu Xương sang đô hộ nước ta, Triệu Xương sai sứ đến dụ Phùng An. Phùng An đã cùng người Man ra hàng.
Từ đời Ngô Quyền về sau, các triều đều truy phong phẩm trật, tước hiệu mỹ tự, dân bản xã hương hỏa không tắt.
Trải qua các triều đại, việc thờ cúng Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng đã trở thành lễ cổ. Thần tích cho biết năm Trùng Hưng thứ nhất (1285) Hoàng triều ban cho Bố chữ “Phu hựu Đại vương”, năm Trùng Hưng thứ tư (1288), ban thêm hai chữ “Chương tín”. Năm Hưng Long thứ 20 “1312”, lại ban thêm hai chữ “Sùng nghĩa”. Cho đến nay anh linh uy thế càng tăng, hương hỏa bất tuyệt.
Hình ảnh của người anh hùng dân tộc sống mãi trong lòng nhân dân. Danh hiệu Bố Cái Đại Vương là danh hiệu tôn vinh ông.
Ngày sinh của Thần 12 tháng 2.
Ngày hóa của Thần 13 tháng 8. Mười ba làng trại tế yết tại đình vào ngày chính hội 13 tháng 2 (âm lịch) và một đội nữ dâng hương.
Đình được cấp bằng di tích cấp thành phố.
Hậu cung đình Xuân Biểu, phường Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Cổng đình Xuân Biểu
(Đình làng Khán Xuân thờ Phùng Hưng đã bị dỡ bỏ (bên cạnh tòa nhà Đông Dương toàn quyền)
Dân làng Xuân Biểu trước kia gốc tích là dân làng Khán Xuân thuộc huyện Thọ Xương, sau này là phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận. Sở dĩ có tên gọi Khán Xuân vì đất thôn trải dài từ Khán Sơn đến Xuân Sơn. Làng Khán Xuân vốn có một ngôi đền thờ Bố cái Đại Vương (hiện nay vẫn còn di tích ở trong khuôn viên Bách Thảo là dấu tích còn lại của trại Khán Xuân xưa). Năm 1890, thực dân Pháp xây dựng Phủ Toàn quyền Đông Dương và vườn Bách Thảo, chúng đuổi toàn bộ dân ở khu vực này đi nơi khác. Dân Khán Xuân đã phiêu bạt ở nhiều nơi, có 10 gia đình của Khán Xuân chuyển đến ở cửa Ô Cầu Giấy, song vẫn giữ nếp xưa. Theo nội dung văn bia “Khán Xuân Trại” niên hiệu Bảo Đại 16 (1941), cho biết: Làng Xuân Biểu mới, đầu năm Canh Tý 1900, các cụ trong làng quyên góp mỗi gia đình 10 đồng, mỗi cửa hàng 20 đồng… Năm 1940, dân làng Xuân Biểu mời hai kiến trúc sư là ông Nguyễn Ngọc Ngoan và ông Nguyễn Xuân Tụng thiết kế xây dựng một ngôi đình to đẹp với giá trị 4.000 đồng.)
14- Đình Chuông, xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
Tương truyền làng Chuông có đình từ lâu đời, trải qua thời gian ngôi đình cổ không còn nữa. Theo tài liệu đang lưu giữ, ngôi đình làng Chuông hiện nay dựng năm Giáp Ngọ (1894). Đình làng Chuông thờ hai vị nhân thần là:
Đại đô Thành hoàng Trung vũ minh tín, Phùng phủ Quân tu Bố Cái Đại Vương, Thượng đẳng phúc thần.
Đương cảnh Thành hoàng, Linh quang cảm ứng Nguyễn Thiện Quốc công, Trung chính Đại vương, tôn phúc thần.
Các bức đại tự và câu đối ở đình Chuông bằng chữ Hán được dịch nghĩa như sau:
“Làng Chuông cổ, chợ Chuông cổ, nghìn năm hương hỏa thờ phụng bởi thần thiêng”.
“Đất đẹp nơi đây, làng xóm nơi đây, tiết tháng ba hàng năm đều kính lễ”.
“Càng trông lên càng thấy cao”.
“Mới nhìn thấy đã phải kính trọng”.
“Sống làm tướng, chết làm thần, chính khí lưu hành ngang trời đất”.
“Công tại triều đình, danh tại sử sách, tiếng tăm lừng lẫy suốt xưa nay”.
“Trời thì dưỡng, đất thì sinh, công to lớn sâu như sông biển”.
“Thánh phù hộ, thần trợ giúp, đức của ngài nguy nga cao tựa núi Nam!”.
“Trang Thời Trung được đất thiêng, nên dương trợ, âm phù, bên ngoài nêu cao nhân đức, bên trong tích cực sửa sang nên nghìn đời nay vẫn hằng tươi đẹp”.
“Đất Đường Lâm sinh ra được người tài, tiền hô, hậu ứng, lấy võ công để chống giặc, gìn giữ biên thùy từ ngàn xưa tới nay vẫn được thừa hưởng”
Ngày sinh Thánh Thượng Phùng Hưng: 21 tháng Giêng; ngày hóa: 13 tháng Chín.
Theo phả ký làng Chuông, thời nhà Đường đô hộ nước ta, Thời Trung là trang ấp lớn, vì vậy vào năm 770, sau khi dấy binh ở Đường Lâm, Phùng Hưng đem quân về hạ trại tại trang Thời Trung, chiêu mộ thêm quân sĩ, luyện tập võ nghệ rồi từ đây tiến quân về thành Tống Bình do An Nam Đô hộ phủ Cao Chính Bình chỉ huy. Trước khi xuất quân bao vây thành Tống Bình, Phùng Hưng làm lễ bái yết trời đất vào ngày 25 tháng 10 âm lịch (theo Ngọc phả làng Chuông). Trong khgi đang làmlễ, có hai vị tên là Thổ Kỳ tên là Thanh và Địa Kỳ tên là Tịnh đến báo mộng rằng, ở trang Thời Trung có người tên Đỗ Huệ sẽ đến giúp Phùng Hưng đánh xâm lược nhà Đường. Ông Đỗ Huệ sinh ngày 12 tháng 8, là chủ trang trại Thời Trung. Đỗ Huệ là người giàu có, ngài không chỉ giúp nghĩa quân của cải tiền bạc, mà còn chiêu mộ trai tráng trong trang ấp cùng đi theo nghĩa quân đáng giặc cứu nước. Ngài là tùy tướng trợ giúp Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng đánh tan quân xâm lược nhà Đường do Cao Chính Bình thống lĩnh, Ngài được tôn là Đức Thánh Đỗ Huệ được thờ ở chùa Chuông - “chùa Thắng Quang”.
Tương truyền, sau khi hạ xong thành Tống Bình, Phùng Hưng cùng triều đình đi thuyền từ sông Tô Lịch, rẽ vào sông Nhuệ, sông Đáy, đến Trằm Sen và lên bờ làm lễ “Tạ cờ” tại Quán Thượng nay là Đền Thượng để tạ ơn trời đất và cám ơn nhân dân. Được tin cấp báo, chức dịch và dân làng Chuông ùa ra đón rước triều đình. Từ đấy, đoạn đường trên được người dân gọi là “Đường Rước Vua!”. Cũng tại trang Thời Trung, Phùng Hưng thân chinh xử chém đầu những kẻ nội gián, làm tay sai bán nước hại dân, chống lại nghĩa quân, đã bị bắt ở các nơi đem về Thời Trang để xử tội. Địa điểm này mang tên “Phủ Trị”.
Đình làng Chuông hiện còn lưu giữ 25 đạo sắc phong Mỹ tự của các triều đại phong kiến cho các vị thần (trong đó có 8 đạo sắc phong cho Phùng Hưng, 3 đạo sắc phong cho bà Trần Thị Huy - Phương Dung).
….
Đình Chuông, xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội.