(Thứ sáu, 13/02/2026, 10:20 GMT+7)

 

Tiến sĩ Phùng Thảo
Phó Chủ tịch Hội đồng họ Phùng Việt Nam

                                                 

Tiến sĩ Phùng Thảo

  1. HỌ PHÙNG

 
Họ Phùng là một dòng họ Việt trong số hàng trăm dòng họ đã nói ở trên. 54 dân tộc Việt Nam, đến nay theo sách Họ và tên người Việt Nam của tiến sĩ Lê Trung Hoa mới tìm thấy 5 dân tộc sau đây có họ Phùng: Dao, Hàng Tổng, Hoa, Kinh,Tu Dí,Tày (Nguồn: Tiểu sử của cán bộ...). Nùng (Nguồn: Niên giám tổ chức hành chính Việt Nam). Thái Mèo (Nguồn: Niên giám tổ chức hành chính Việt Nam). Họ Phùng của 8 dân tộc được thống kê ở trên cần hiểu rằng: Cho đến nay chưa có một nghiên cứu khoa học nào chứng minh 8 họ Phùng nói trên có mối liên hệ huyết thống, có họ tộc cha truyền con nối giữa những người họ Phùng đang sống trên lãnh thổ Việt Nam.
Thống kê dòng họ là vấn đề lớn, không phải là việc dễ, nhưng cũng không phải khó đến mức không thể làm được. Chỉ có điều chúng ta có quan tâm đặt ra nhiệm vụ và đầu tư để thực hiện nhiệm vụ đó hay không?
Về các dòng họ Việt Nam được công bố chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến nay như: Về số dòng họ, số nhân khẩu, số nam, số nữ của mỗi dòng họ... chưa có. Có ý kiến cho rằng, 13 dòng họ lớn ở Việt Nam theo thống kê ở trên (nếu đúng) đã chiếm 80% dân số cả nước. Chỉ còn gần 20 phần trăm là nhân khẩu của gần một ngàn dòng họ? Nếu ước tính gần 20 % số dân của nước ta trong tổng số 100 triệu người thì họ Phùng Việt Nam sẽ có số nhân khẩu là bao nhiêu?
Một nghiên cứu gần đây cho biết: Đứng sau 13 dòng họ có số nhân khẩu lớn ở trên, số nhân khẩu người họ Phùng ở Việt Nam đứng ở tốp đầu các dòng họ còn lại, ước tính khoảng 0,5 %. Người họ Phùng tập trung làm ăn sinh sống ở các vùng miền, các tỉnh, thành phố theo thứ tự sau đây:

  • Đồng bằng sông Hồng.
  • Trung du và miền núi phía Bắc.
  • Đông Nam bộ.
  • Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung.
  • Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Tây Nguyên.

63/63 tỉnh, thành phố ở Việt Nam đều có người họ Phùng làm ăn sinh sống, cụ thể: nhiều nhất là Hà Nội, sau đó là Phú Thọ, Vĩnh Phúc, TP Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Hải Dương, Bắc Giang, Đồng Nai, Hải Phòng, Lạng Sơn, Nam Định, Tuyên Quang, Nghệ An, Yên Bái, Cao Bằng, Đắc Lăk, Thái Nguyên, Long An, Quảng Ninh, Lào Cai, Hà Giang, Đà Nẵng, Bắc Ninh, Bình Dương, Khánh Hòa, Hưng Yên, Lâm Đồng, Bắc Kạn, Hòa Bình, Quảng Nam, Thái Bình, Lai Châu, Quảng Ngãi, Bình Phước, Tiền Giang, Bến Tre, An Giang, Gia Lai, Vũng Tàu, Đắc Nông,... (Xếp thứ tự từ nhiều đến ít)
 Để góp phần làm sáng tỏ câu hỏi, tìm lời giải cho những ẩn số trên, góp phần tìm hiểu hiểu tận cùng điều mà không ít người họ Phùng chúng ta quan tâm, tác giả đã đi điền dã, sưu tập, tìm hiểu về người họ Phùng theo hướng sau đây:
A.Đọc sử liệu, sách, báo, thần tích, sắc phong,...biết được quê quán, lịch sử của những nhân vật lịch sử người họ Phùng. Tìm hiểu ở các tài liệu trên, đều cho kết quả số đông những người họ Phùng đều có quê hương Xứ Đoài (Sơn Tây, một phần các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc).
Bà Phùng Thị Chính sinh ra ở thôn Tuấn Xuyên, xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì. BàPhùng Thị Vĩnh Hoa sinh ra ở trang Mao Điền Hải Dương, nhưng sống và lập nghiệp lại ở trang Tiên Nha, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây. Bà Phùng Thị Tú, bà Phùng Thị Huyền, sinh ra ở Trại Vân Thủy, Bạch Hạc, phủ Vĩnh Tường, bốn vị nữ tướng anh hùng họ Phùng đều là các tướng tâm phúc của Bà Trưng trong cuộc chiến chống lại nhà Hán xâm lược, giành độc lập dân tộc vào những năm 40 sau Công nguyên;
Hữu tướng Phùng Thanh Hòa, cùng Lý Nam Đế đánh đuổi quân Lương giành độc lập dân tộc, ông đã lập làng, sinh sống và hóa tại làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây(nay là xã Tây Phương, Hà Nội);
 Bố cái Đại vương Phùng Hưng, cháu bẩy đời của quan Châu mục Phùng Trí Cái, tổ tiên ông có quê Đường Lâm Sơn Tây, ông đã phất cờ đánh đuổi giặc Đường giải phóng quê hương, lên ngôi vua xây dựng nền tự chủ nước nhà.
Phùng Tá Chu, Thái phó lưỡng triều Lý - Trần, người có công đầu hưng nghiệp triều Trần. Ông sinh ra ở đất Mỹ Xá Thái Bình, nhưng lại có quê ở Sơn Tây.
Trong số tám vị tiến sĩ thời phong kiến người họ Phùng thì có sáu vị tiến sỹ người vùng đất xứ Đoài:
Phùng Đốc người thôn Chàng Sơn, xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây;
Phùng Hữu Hựu người thôn Viên Đình, xã Đông Lỗ, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây;
Phùng Ông người thôn Tuấn Xuyên, xã Vạn Thắng, huyện ba Vì, tỉnh Sơn Tây;
Phùng Khắc Khoan người làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây;
Phùng Thế Triết người thôn Kim Bí, xã Tiên Phong, huyện Ba Vì, tỉnh Sơn Tây;
Phùng Bá Kỳ người thôn Hợp Thịnh, xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương (vùng đất này xưa kia thuộc xứ Đoài).
Nghiên cứu Niên giám tổ chức hành chính Việt Nam các năm 2004-2005, năm 2009 và năm 2016 - 2021 của Bộ Nội vụ và Viện Khoa học Tổ chức nhà nước, ta biết được các ứng cử viên được cử tri tín nhiệm bầu làm các vị quan chức trong cơ quan nhà nước có quê quán, nơi họ đang sinh sống làm việc cụ thể và rõ ràng. Với kết quả được công bố trong các tập sách niên giám tổ chức hành chính Việt Nam ở trên, những người họ Phùng trúng cử Chủ tịch UBND xã trong cả nước đầu thập kỷ thế kỷ 21 là 100 người ở 100 xã thuộc 33 tỉnh, thành phố. Sau đây là kết quả nghiên cứu:
+ Hà Nội (gồm Hà Nội, Hà - Tây) có 26 xã; Phú Thọ 7 xã;Cao Bằng 5 xã;Vĩnh Phúc 5 xã; Nghệ An 4 xã; Lai Châu 3 xã;Yên Bái 5 xã;Lạng Sơn 5 xã;TNghệ An 4 xã; Tuyên Quang 3 xã; Lào Cai 3 xã; Quảng Ninh 3 xã. Bắc Giang 3 xã;Hải Phòng 3 xã;Thanh Hóa 3 xã; Thái Nguyên 2 xã;Nam Định 2 xã;Ninh Bình 2 xã;Ninh Bình 2 xãKhánh Hòa 2 Xã; Hà Giang 1 xã;Bắc Kạn 1 xã;Bắc Ninh 1 xã; Hưng Yên 1 xã; Thái Bình 1 xã; Hà Nam 1 xã; Hà Tĩnh 1 xã; Quảng Bình 1 xã; Đà Nẵng 1 xã;Bình Định 1 xã; Bình Thuận 1 xã; Lâm đồng 1 xã; Bình Phước 1 xã; TP Hồ Chí Minh 1 xã; Long An 1 xã. Trong số 100 xã (được thống kê trong niên giám) người họ Phùng được bầu làm chủ tịch xã, thì có tới 40 % số xã thuộc xứ Đoài, Sơn Tây (nếu mở rộng các vùng đất xung quanh xứ Đoài thì số lượng còn lớn hơn nhiều). 60% số xã còn lại ở rải rác các vùng miền, trong đó người họ Phùng ở các xã miền núi phía Bắc phần lớn thuộc các dân tộc ít người. Số còn lại người họ Phùng là người kinh được di cư từ xứ Đoài, một số địa phương thuộc các tỉnh đồng bằng Bắc bộ. Những làng xã ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên, miền Nam bước đầu khảo cứu đều cho kết quả người họ Phùng di cư đến sinh sống tại các vùng đất này phổ biến là họ Phùng thuộc dân tộc kinh từ miền Bắc đến. khảo cứu ban đầu lịch sử họ Phùng ở một số tỉnh miền Nam, Tây Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An, một số tỉnh đồng bằng và ven biển Bắc bộ đều cho thấy kết quả chung là: Nhìn chung các gia đình đều cho biết, họ là dân tộc kinh, gia phả để lại theo truyền ngôn, ít có văn tự; hoặc không có gia phả; hoặc có gia phả thì số đời ghi cũng rất mỏng; nhiều dòng họ khi trao đổi thì con cháu dòng họ cho biết: Họ phỏng đoán, hoặc nghe nói họ Phùng từ Bắc vào, từ Bắc đến....
 
 
B. Một khảo cứu người họ Phùng tại các làng xã thuộc huyện Ba Vì thành phố Hà Nội:
 Ba Vì là một huyện thuộc tỉnh Sơn Tây, sau là tỉnh Hà Tây và hiện nay thuộc thành phố Hà Nội.Huyện Ba Vì có 30 xã, 1 thị trấn. 100% số xã trong huyện đều có người họ Phùng (cho đến nay, chúng ta chưa thấy có huyện nào ở Việt Nam người họ Phùng lại có mặt ở 100% số xã như ở huyện Ba Vì). Gặp gỡ, trao đổi với đại diện bà con họ Phùng ở 11 xã trong huyện Ba Vì thì được kết quả như sau:
1. Xã Vạn Thắngcó bẩy thôn, chỉ có thôn Tuấn Xuyên và thôn Mai Chai là có người họ Phùng. Trong cuộc làm việc với bà con người thôn Tuấn Xuyên: Ông Phùng Tiến Vững, nguyên cán bộ lãnh đạo huyện Ba Vì, nay đã nghỉ hưu ở quê, ông Nguyễn văn Sáu, ông Phùng Xuân Hải, ông Phùng Ngọc Tuyền, các vị đều cho biết: Theo các cụ cao lão ở làng truyền lại, họ Phùng ở trại Nhân Hồng của thôn Nhân Hồng nay là thôn Tuấn Xuyên có từ trước cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng năm 43 sau Công Nguyên. Bà Phùng Thị Chính, có bố đẻ là cụ Phùng Bổng, mẹ họ Hùng, tên Tuyết, họ bên ngoại Bà Trưng. Bà Chính sinh ra ở làng Tuấn Xuyên. Bà đã tham gia cuộc khởi nghĩa, là nữ trinh sát tài, đức, dũng cảm, rồi trở thành vị nội tướng tin cậy của Bà Trưng. Sau thắng lợi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, bà đã về làng xây dựng quê hương, giúp người nghèo khó quê nhà. Khi giặc phương Bắc quay lại xâm lược đất nước, cuộc khởi nghĩa do Bà Trưng khởi xướng thất bại, bà Phùng Thị Chính đã tuẫn tiết tại quê hương vào ngày 6 tháng 9. Họ Phùng làng Tuấn Xuyên có nhà thờ của dòng họ, với 90 hộ. Hiện nay dòng họ Phùng thôn Tuấn Xuyên mới tìm và thống kê họ Phùng ở đây có 10 đời.
Làm việc với ông Phùng Văn Mạc, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Vạn Thắng, ông Mạc cho biết: Thôn Mai Chai cùng xã Vạn Thắng với thôn Tuấn Xuyên, họ Phùng ở Mai Chai có nhà thờ dòng họ, với gần 200 hộ, có số đinh là 450, số khẩu gần 1000. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dòng họ có gần một trăm người con tham gia quân đội, có 6 liệt sĩ, tại quê nhà nhiều người con dòng họ đã tích cực tham gia xây dựng quê hương, nhiều người đã trở thành Bí thư đảng ủy, chủ tịch UBND xã. Tuy hai thôn Mai Chai và Tuấn Xuyên cùng có người họ Phùng, cùng chung một xã, vị trí địa lý hai thôn ở cận kề nhau, nhưng cho đến nay chưa có thông tin gì về mối liên hệ họ tộc, huyết thống của người họ Phùng của hai thôn này.
2. Xã Thái Hòa,thôn Thuận An: Cụ Phùng Văn Toàn trưởng họ, người trông coi nhà thờ họ Phùng ở thôn Thuận An đã cho tác giả biết: Họ Phùng ở thôn Thuận An có 16 đời, hiện nay dòng họ mới tìm được 12 đời. Ngai thờ cụ tổ họ Phùng ở làng được ty văn hóa tỉnh Hà Tây thẩm định và xác minh có niên đại 400 năm. Số đinh họ Phùng ở thôn hiện có 400, số khẩu dòng họ ước hơn 1000. Thời phong kiến cả xã có 7 địa chủ thì họ Phùng chiếm 6, trong làng chánh tổng, lý trưởng, bá hộ, cai hàng tổng đều người họ Phùng. Năm 1947 thực dân Pháp đốt 17 nóc nhà của bà con dòng họ, chúng đốt luôn cả gia phả dòng họ.
3.Xã Phú Sơn, thôn Phú Hữu, tìm hiểu ở Phú Hữu, tác giả đã gặp ông Phùng Thế Ấn nguyên chủ tịch xã Phú Sơn đã nghỉ hưu và ông Phùng Thế Định. Ông Ấn và ông Định cho biết, họ Phùng ở thôn Phú Hữu có 4 chi, phân thành các nhánh: Phùng Thế, Phùng Tiến, Phùng Văn, Phùng Khắc, Phùng Danh. Tính từ cụ tổ họ Phùng cao nhất đến nay, dòng họ có 21 đời, với 380 đinh, và 1000 nhân khẩu. Giỗ tổ họ Phùng thôn Phú Hữu vào ngày 15 tháng 4 âm lịch tại nhà thờ dòng họ.
4. Xã Đồng Thái, tác giả đãgặp ông Phùng Gia Thành trưởng họ, người trông coi nhà thờ họ Phùng, ông Thành cho biết: Cụtổ họ Phùng là Phùng Quí Công, giỗ tổ họ Phùng ở Đồng Thái vào ngày 20 tháng Chạp âm lịch tại nhà thờ tổ. Họ Phùng có hai chi lớn, chi trưởng là Phùng Gia di chuyển từ quê gốc xã Vật Lại đến xã Đồng Thái. Chi thứ ở lại xã Vật Lại là Phùng Bá,... Phùng Văn. Họ Phùng ở Đồng Thái có 18 đời, được phân thành các nhánh: Phùng Văn, Phùng Kim, Phùng Hữu, Phùng Đức, Phùng Đắc. Số hộ dòng họ có 300, số khẩu có 1000. Thời phong kiến, các thế hệ người họ Phùng ở làng thay nhau làm chánh, lý, cai, tổng. Ngày nay con cháu dòng họ cùng các dòng họ khác trong làng đoàn kết xây dựng quê hương, nhiều thế hệ con cháu họ Phùng tham gia làm trưởng thôn, chủ tịch xã. Ở xã hiện có đền thờ tướng công Phùng Lân Hổ thời nhà Trần, dòng họ chưa có điều kiện nghiên cứu để làm sáng tỏ thân thế, cuộc đời, sự nghiệp của nhân vật được thờ. (gặp ông Thành trưởng họ)
5. Xã Vật Lại,thôn Vật Lại,tiếp và trao đổi với tác giả có các ông Phùng Khắc Khiêm, Phùng Xuân Phong, Phùng Khắc Duy đều là cựu chiến binh đã nghỉ hưu. Các ông Khiêm, Phong, Duy cho biết: Cụ tổ dòng họ là Phùng Quí Công, con cháu ngành trưởng họ Phùng đã di cư đến xã Đồng Thái, gần xã Vật Lại, cùng huyện Ba Vì. Chạp tổ dòng họ vào 20 tháng Chạp tại nhà thờ tổ. Họ Phùng ở xã Vật Lại có 2.976 hộ, với 8000 nhân khẩu, dòng họ có 300 người là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (tổng số đảng viên toàn xã có 550 người), họ Phùng liên tục có con em tham gia làm cán bộ lãnh đạo chủ chốt của xã qua các thời kỳ, trong toàn xã con cháu họ phùng vào bộ đội rất đông, đến nay, có 6 người là sĩ quan cấp đại tá, 10 người là sĩ quan cấp thượng tá. Họ Phùng ở xã Vật Lại chia ra 25 nhánh: Phùng Kim, Phùng Khắc (có 3 nhánh), Phùng Chu, Phùng Đình, Phùng bá, Phùng Hữu (có 2 nhánh), Phùng Danh, Phùng Duy, Phùng Thế, Phùng Quốc, Phùng Đôn, Phùng Ngọc, Phùng Tiến, Phùng văn,...Theo các ông Khiêm, Phong, Duy, tên gốc của xã là Uma thôn, vào thế kỷ XV, U Ma thôn là căn cứ kháng chiến của Lê Lợi, dân làng U Ma thôn đã giúp Lê Lợi đánh giặc, sau khi thắng giặc, lên làm vua nước Việt, Lê Lợi đã quay về U Ma thôn cám ơn dân làng và đặt tên cho làng là làng Vật Lại.
6. Thị trấn Tây Đằng, tác giả đãgặp và trao đổi các ông Phùng Văn Lượng (trưởng họ), ông Phùng Quang Bình, ông Phùng Văn Tài, các ông cho biết: Đến nay mới biết được họ Phùng ở Tây Đằng có 14 đời, được chia ra 4 nhánh: Phùng Quang, Phùng Văn, Phùng Công, Phùng Bá. Phùng Quang có 220 suất đinh, 500 nhân khẩu, Phùng Văn có 600 nhân khẩu, Phùng Công có 260 suất đinh, 600 nhân khẩu, Phùng Bá (trước đây đổi sang Nguyễn bá, nay quay lại họ gốc) có 300 suất đinh, 600 khẩu. Họ Phùng Tây Đằng nhiều thế hệ đã trông coi, hương khói, gìn giữ lăng mộ Thái phó lưỡng triều Lý - Trần Phùng Tá Chu.
7. Xã Phú Đông,thôn Phú Nghĩa và thôn Đồng Phú.Tác giả đã gặp và trao đổi với các ông: Phùng Văn Thế, công chức văn hóa xã Phú Đông, ông Phùng Hoàng Bình trưởng họ (thôn Phú Nghĩa). Các ông Đông và Bình cho biết, họ Phùng ở hai thôn Phú Nghĩa và Đồng Phú có 600 đinh, với hàng nghìn nhân khẩu. Ở thôn Phú Nghĩa có các nhánh họ Phùng: Phùng Chí, Phùng Văn, Phùng Thiện, Phùng Hoàng, Phùng Lê; ở thôn Đông Phú họ Phùng có một nhánh là Phùng Văn. Cụ tổ họ Phùng ở thôn Phú Nghĩa là cụ Phùng Đăng Diêm, ngày giỗ 11 tháng Hai âm lịch tại nhà thờ tổ, cụ bà cả là Chu thị Phụng, cụ bà thứ là Chu Thị Đội. Đến nay mới biết ở thôn Phú Nghĩa dòng họ Phùng có 14 đời, số đinh 171, số khẩu 500. Thời phong kiến dòng họ có cụ Phùng Đăng Nhiệm làm Phó sứ Bắc Kỳ (sắc phong năm 1714 đời vua Lê Dụ Tông, hiệu Vĩnh Thịnh). Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, và Mỹ xâm lược người họ Phùng ở hai thôn Phú Nghĩa và Đồng Phú đã có nhiều người con vào bộ đội đánh giặc giữ nước, bảo vệ quê hương, trong hòa bình người họ Phùng luôn đoàn kết cùng các dòng họ xây dựng quê hương, nhiều người đã trở thành cán bộ lãnh đạo của địa phương.
8. Xã Phú Phương, thôn Phương Khê, Trao đổi với ông trưởng họ Phùng Văn Lý được biết: Cụ tổ dòng họ thôn Phú Phương là cụ Phùng Hữu Khánh, Đến nay mới biết dòng họ có 18 đời tính từ cụ Phùng Hữu Khánh, với 1150 đinh, số khẩu 3000. Họ Phùng ở Phương Khê phân ra các nhánh: Phùng Hữu, Phùng Khắc, Phùng Văn...người họ Phùng ở đây luôn đoàn kết với các dòng họ trong thôn, chấp hành tốt các chủ trương chính sách của đảng, nhà nước, trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ xâm lược, nhiều người tham gia bộ đội đánh giặc bảo vệ quê hương đất nước, trong hòa bình tích cực lao động sản xuất xây dựng quê hương, con em dòng họ hiếu học có nhiều người đạt học vị tiến sĩ: TS Phùng Đức, PGS TS Phùng văn Đồng, TS Phùng Được hiệu trưởng, đại tá TS Phùng Ngọc Anh, đại tá TS Phùng Cao. Nhiều người thành đạt trong lĩnh vực doanh nhân như ông Phùng văn Sơn tổng giám đốc tổng công ty xây dựng Sông Hồng, thành đạt trong lĩnh vực lãnh đạo và quản lý như: Ông Phùng Tân Nhị Phó bí thư huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Ba Vì, ông Phùng Ngọc Anh Trưởng phòng giáo dục huyện Ba Vì,...
9. Xã Tiên Phong, thôn Kim Bí, Trao đổi với ông Phùng Thế Khiêm (trưởng họ) và ông Phùng Thế Hiên được biết; Họ Phùng thôn Kim Bí đến nay được biết có 22 đời, số đinh 400, số khẩu 1500. Là dòng họ có truyền thống văn hiến khoa bảng, đời thứ8dòng họcó cụ Phùng Thế Trung đỗ tiến sỹ (một trong 8 nhà khoa bảng Việt Nam được ghi tên cùng tiến sĩ các triều đại phong kiến trong Văn Miếu Quốc Tử Giám) con trai cụ là Chánh nhất phẩm Phùng Thế Quý thuộc đời thứ 9 của dòng họ, cháu cụ là Tri phủ Phùng Thế Khanh.
10. Xã Tòng Bạt, làng Tòng Lệnh. Họ Phùng ở khu dân cư 12, làng Văn hóa Tòng Lệnh có gia đình cụ Phùng Văn Hoành sinh năm 1905 và cụ bà Chu Thị Ngưu sinh năm 1909 sinh 10 người con, 4 trai, 6 gái. Tính đến nay hai cụ có 42 người là con trai, con gái, con rể, cháu nội, cháu ngoại đã phục vụ trong quân đội liên tục với tổng thời gian hơn 300 năm, có 18 đảng viên, 24 đoàn viên, có 3 đảng viên trên 50 năm, 60 năm tuổi đảng, có 12 sĩ quan, 30 hạ sĩ quan, 2 liệt sĩ, 6 thương binh, 21 cựu chiến binh. Con rể cả cụ là Chủ tịch Hội cựu chiến binh huyện Ba Vì, cháu rể cụ là Chủ tịch Hội cựu chiến binh xã Tòng bạt. Ga đình cụ đã được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương cao quí, trong đó có 1 Huân chương Quân công, 6 Huân chương Chiến công, 7 Huân chương Kháng chiến, và nhiều huân, huy chương cũng như các phần thưởng cao quí khác (tư liệu năm 2009).
11. Xã Chu Minh, Thôn Vĩnh Phệ và thôn Chu Quyến là làng cổ Hoàng Thệ thuộc xã Vinh Linh, tổng Tây Đằng, phủ Quảng Oai (nay là xã Chu Minh). Hai thôn có 670 hộ, số đinh của thôn Vĩnh Phệ 312, còn số đinh của thôn Chu Quyến 105. Theo truyền khẩu, họ Phùng thôn Vĩnh Phệ có hai ngôi mộ tổ: Cụ Phùng Văn Dưỡng táng tại chùa Gừng (cụ có con, cháu), cụ Phùng Văn Bạo táng tại chùa Bùi (cụ không có con, cháu).
Dòng họ có một cụ ra sông Hồng không biết đi ngược hay đi xuôi. Trước cách mạng tháng Tám người họ Phùng Chu Minh có rất nhiều nhà cổ, chiếm tới hai phần ba nhà cổ ở làng. Các cụ họ Phùng làng Vĩnh Phệ xưa kia chuyên làm ruộng, làm pháp sư, luật sư, làm thuốc nam. Ngày nay nghề thuốc nam trong dòng họ vẫn có người hành nghề. Sau cách mạng tháng Tám, người họ Phùng làng Vĩnh Phệ tham gia hoạt động cách mạng khá đông. Dòng họ có 18 người hy sinh là liệt sĩ, 2 người là thương binh, 1 người là bệnh binh.
C. Một khảo cứu về họ Phùng ở một số tỉnh, thành phố. Bước đầu biết được nơi lập nghiệp, số đời, số đinh, số nhân khẩu, sự phát triển của mỗi dòng họ... nhờ đó góp vào việc xác định nguồn gốc, nơi phát tích của họ Phùng Việt Nam nói chung:
 Họ Phùng Xã Yên Luật, huyện Hạ Hòa,tỉnh Phú Thọ từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 21 (1780 - 2010) Theo gia phả họ Phùng ở xã Yên Luật, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ được truyền lại thì họ Phùng xã Yên Luật có gốc từ: “Xứ Đồng Cận, phố Cả thuộc Sơn Tây, là một dòng họ có thế lực, đem mả tổ táng lên chùa làng”. Hiện nay vùng đất này thuộc thị trấn Tây Đằng và xã Chu Minh huyện Ba vì, thành phố Hà Nội (Xưa kia thị trấn Tây Đằng và xã Chu Minh nằm cùng thành cổ Sơn Tây cũ, sau do lũ lụt mới chuyển về thị xã Sơn Tây ngày nay). Đúng theo gia phả cả vùng chỉ có 3 ngôi mộ tổ họ Phùng táng vào đất chùa là: Mộ Hưng Nhân Đại vương Phùng Tá Chu, Thái phó lưỡng triều Lý - Trần táng tại chùa Cao thị trấn Tây Đằng Ba Vì, mộ cụ Phùng văn Dưỡng táng tại chùa Gừng xã Chu Minh, mộ cụ Phùng Văn Bạo là em cụ Dưỡng táng ở chùa Bùi xã Chu Minh. Họ Phùng xã Yên Luật có đệm là Văn, nên là trực hệ và gần với chi họ Phùng Văn ở thôn Vĩnh Phệ, xã Chu Minh huyện Ba Vì là chi họ Phùng Văn thờ hai cụ Phùng văn Dưỡng và Phùng văn Bạo. Năm 2009, hai chi đã xác nhận là anh em cùng chi hệ. Chi Phùng Văn ở Yên Luật, Hạ Hòa Phú Thọ là chi nhánh của chi Phùng văn ở thôn Vĩnh Phệ xã Chu Minh huyện Ba Vì thành phố Hà Nội. Họ Phùng văn ở xã Chu Minh hiện nay, nhánh cả ở lại làng có khoảng 100 hộ, trưởng họ là ông Phùng Văn Chắt. Tổ của chi họ Phùng ở phố Nả (phố cả) thị trấn Tây Đằng và xã Chu Minh sinh sống ở vùng đất này vào khoảng trước năm 1700. Chi họ Phùng văn ở Yên Luật, Hạ Hòa, Phú Thọ tách ra từ chi họ Phùng Văn ở thôn Vĩnh Phệ xã Chu Minh. Chi có phả hệ như sau: họ Phùng ở Yên Luật tính từ Cụ Phùng Văn Tịnh di cư từ phố Nả thị trấn Tây Đằng và xã Chu Minh, huyện Ba Vì năm 1780 đến xã Yên Luật, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đến năm 2010, gia phả dòng họ biên soạn có 10 đời, với 223 Đinh, 331 khẩu. Từ hai vợ chồng cụ Phùng Văn Điển và Vũ Thị Lan ở đất Yên Luật chỉ có một túp nhà tranh, ngày nay cháu chắt, chút chít của hai cụ đã có hàng trăm người Họ Phùng Văn di cư từ đất Sơn Tây (Xứ Đồng Cậu, phố Cả), đến ngày nay có hơn 200 năm (1780 - 2021). Thời kỳ đầu tiên dòng họ chỉ có một bạch đinh, tay trắng, thân cô, thế cô, bị chèn ép trăm bề, nhưng vốn là con cháu của nghĩa sĩ tham gia nghĩa quân Cai Tổng Vằng với tinh thần dũng cảm, bất khuất chống lại ách thống trị, bóc lột của triều đình phong kiến, theo cách mạng, theo Việt Minh, cùng nhau uống máu ăn thề đánh Nhật, đuổi Tây, con cháu dòng họ làm việc cho cách mạng, làm bộ đội, góp xương máu, mồ hôi, nước mắt, tiền của cho cách mạng, có người là Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, có người là Đảng viên Đảng Lao động Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhờ cách mạng, dòng họ đã có cô tú, cậu tú, kỹ sư, bác sĩ, thạc sĩ, tiến sĩ, dòng họ có người làm cán bộ ở cơ sở, huyện, cán bộ cấp tỉnh, cấp trung ương, làm chuyên gia cho nước bạn, đi du học ở nhiều nước trên thế giới,… có người làm đến cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng và nhà nước Việt Nam, ông Phùng Quốc Hiển, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
 Họ Phùng Nguyễn Xá làng Hòa Xá(biên tập theo tài liệu của ông Phùng Ngọc Kiếm, trưởng dòng họ) Họ Phùng Hòa Xá là dòng họ có mặt từ lâu đời ở làng quê Hòa Xá. Cụ tổ dòng họ là Phùng Nhĩ Văn. Dòng họ có nhà thờ Đại tộc xây dựng từ mấy trăm năm, trong nhà thờ hiện còn lưu giữ đồ thờ rất quí như: Ngai thờ, ban thờ, hoành phi, câu đối. Gian chính nhà thờ có bộ câu đối “Đường Lâm chi phái vương nhi tướng.Tổ đường xuất Tổ hựu nhân thân”. Hiện nay dòng họ còn giữ được bản phả họ Phùng do cụ giáo Phùng xuân Huy, cử nhân khoa Giáp Thân (1884) viết năm 1920. Căn cứ bản gia phả do cụ Huy biên soạn và một số tài liệu khác, thủy tổ họ Phùng làng Hòa Xá về làng từ thế kỷ thứ IX, ý kiến này căn cứ vào câu đối cổ trong nhà thờ:“Đường Lâm chi phái vương nhi tướng Tổ đường xuất Tổ hựu nhân thân” Tạm dịch: Là chi phái vương và tướng Đường Lâm.Các bậc Tổ nguồn cội chung một gốc. Họ Phùng làng Hòa Xá có vị tổ đời thứ hai là: Cụ Phùng Hữu Nhân, tương truyền cụ có sức khỏe lạ thường, giỏi về môn đánh vật, giỏi về thuần hóa được cả voi dữ. Cụ đã thi đấu vật với lực sĩ của nhà vua, với sức khỏe phi thường và những miếng võ hiểm hóc, chỉ sau chưa đầy một hiệp đấu, cụ đã dùng một miếng “Bốc” nâng bổng đối thủ lên, ném qua khán đài xuống sân, đô vật của nhà vua chấp nhận thua cuộc. Vua đã phong cho cụ tước hiệu: “Đô lực Đại vương” đồng thời sung quân làm quan võ. Cụ đã lập được nhiều chiến công, được Vua nhiều lần trọng thưởng. Khi đất nước có loạn, cụ được triều đình sai phụ trách binh lương, Cụ được giao chỉ huy đoàn thuyền tải lương trên sông Đáy đem lại kết quả to lớn cho triều đình, một lần đoàn thuyền về đến gần bến bỗng trời nổi cơn giông, mưa to gió lớn, đoàn thuyền của cụ trôi vào vùng nước xoáy và thuyền của cụ bị lật, quân lính chết cả, cụ đã thác tại đây. Sau này nơi cụ hóa nổi lên một gò đất cao, dân làng xem đó là mộ thiên táng, và đặt tên cho gò đất nơi cụ hóa là Gò Ông Đồng, đồng thời làng đã lập đền thờ cụ. Đền đó có tên đền Quán Trải, xét đến công lao của cụ, nhà vua đã phong sắc cho cụ: “Đô Đồng lực sĩ, Nhãi Trải Đại vương”. Trải qua hàng trăm năm đến ngày nay, dân làng Hòa Xá đã thờ cụ ở đền Quán Trải như bậc phúc thần của làng. Trong dòng họ còn có cụ Phùng Lục (1858 - 1949), cụ bà là Dư Thị Chỉ, năm 1948 theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh ủng hộ kháng chiến, hai cụ đã ủng hộ 500,00 đồng bạc Đông dương (số tiền 500,00 đồng bạc lúc đó tương đương 17 tấn thóc do các con cụ biếu để tổ chức khao cụ lên lão thượng thọ bát tuần) cho nhà nước dân chủ cộng hòa non trẻ gần như tay trắng đang căng sức chống thù trong, giặc ngoài. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất cảm động trước nghĩa cử của vợ chồng cụ Phùng Lục, Bác Hồ đã gửi thư cảm ơn vợ chồng cụ Phùng Lục, sau đây là bức thư Bác Hồ gửi vợ chồng cụ Phùng Lục.
Kính gửi: Cụ Phùng LụcPhụ lão cứu quốc Ứng Hòa, Hà Đông (Nhờ Ủy ban kháng chiến hành chính Hà Đông chuyển).
Thưa cụ!
Những cụ thượng thọ như cụ là quý vô giá của dân tộc và nước nhà. Trong những ngày chúc thọ, Cụ lại miễn sự tế lễ, dặm đình, mà đem số tiền 500đ,00 quyên vào quĩ kháng chiến, như thế là Cụ đã nêu cái gương hăng hái kháng chiến và gương sửa đổi cổ tục, thực hành đời sống mới cho toàn thể đồng bào noi theo.
Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn Cụ và trân trọng chúc Cụ sống lâu và luôn luôn mạnh khỏe, để kêu gọi con cháu ra sức tham gia công việc kháng chiến và kiến quốc.
Cháu lại kính gửi Cụ lời chào thân ái và quyết thắng.
 Tháng 5 năm 1948.
 Hồ Chí Minh
(Thư lưu tại Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh)
Con cháu gia đình cụ Phùng Lục nhất là người con trai thứ ba là ông Phùng Vạn Thược đã góp nhiều công sức khôi phục và phát triển nghề dệt màn vải, các nghề kỹ thương khác, tạo nhiều cơ hội việc làm cho người trong và ngoài dòng họ làm nhiều sản phẩm phục vụ kháng chiến. Họ Phùng làng Hòa Xá, theo thống kê năm 2021, dòng họ có 5 chi, mỗi chi lại có nhiều ngánh. Hiện nay, con cháu họ Phùng Hòa Xá có 1200 đinh, với 3.000 nhân khẩu, sống và làm việc ở nhiều vùng miền của đất nước và ở nước ngoài. Trong hai cuốc chiến tranh bảo vệ độc lập, tự do của tổ quốc, họ Phùng ở Hòa Xá có hàng trăm người con (hầu như gia đình nào cũng có một đến hai người) nhập ngũ vào bộ đội cầm súng bảo vệ tổ quốc. Trong hai cuộc kháng chiến đánh Pháp và Mỹ xâm lược, dòng họ có: Hơn 20 liệt sĩ; 04 mẹ Việt Nam anh hùng (gia đình cụ: Phùng Vần, Phùng Miều, Phùng Trừng, Phùng Thị Lũng); 04 Đại tá (gồm các ông: Phùng Văn Vĩnh, Phùng Văn Thọ, Phùng Văn Thiệp, Phùng Anh Lê).
Đặc biệt, người con, người chiến sĩ QĐND Việt Nam tiêu biểu của dòng họ là ông Phùng Văn Quán, với chiếc gậy Trường Sơn hành quân trên mọi nẻo đường Trường Sơn đánh Mỹ, chiếc gậy của các ông đã trở thành nguồn cảm hứng sâu sắc, vô tận để nhạc sĩ Phạm Tuyên sáng tác nên bài hát nổi tiếng một thời “chiếc gậy Trường Sơn”. Ông Quán nhớ lại: “Người làng Hòa Xá tham gia Binh đoàn 559 nhiều lắm, có đến hơn trăm người. Chúng tôi là quân bổ sung vào chiến trường B, hành quân suốt đường Trường Sơn, đến binh trạm nào cũng gặp người làng. Hành quân đến Binh trạm 34 thì có người làng được về phép, anh ấy hỏi chúng tôi có cái gì gửi cho quê hương không? Ba chúng tôi là Đỗ Tít, Lưu Quốc Phong và Phùng Quán gửi 3 cây gậy mà chúng tôi đã chống suốt chặng đường dài để báo tin cho gia đình rằng, mình đã vào đến chiến trường. Chẳng ngờ, sau này mấy cây gậy của chúng tôi lại được nhiều người biết đến thế”. “Thanh niên quê tôi làm chiếc gậy hành quân, đặt cho tên gọi là chiếc gậy Trường Sơn…” đó là những câu mở đầu cho bài hát “Chiếc gậy Trường Sơn”. Bài hát một thời đã góp phần động viên tinh thần bao lớp thanh niên chân cứng đá mềm vượt đường Trường Sơn cứu nước, làm nên huyền thoại đường Trường Sơn - đường mòn Hồ Chí Minh. Bản thảo bài hát nhạc sĩ Phạm Tuyên đã viết “Tặng thanh niên Hòa xá Hà Tây và các bạn sắp lên đường làm nhiệm vụ”. Năm 1973, Đảng bộ và nhân dân Hòa xá vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặc danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang.
Họ Phùng Thọ Am, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. (biên tập theo tài liệu ông Phùng Luận đại diện dòng họ)
Cụ tổ họ Phùng Thọ Am hiệu Phúc Xuyên phủ Quân húy nhật ngày 25 tháng 11. Ngày tháng năm sinh của cụ tổ không rõ. Họ Phùng từ đâu về Thọ Am cũng không rõ. Chỉ biết từ đời thứ 2, họ Phùng Thọ Am có cụ “Trần triều Quốc Sư” không rõ vào đời nào của triều Trần. Nếu tính vào ông vua cuối cùng của triều Trần là Trần Thuận Tôn, niên hiệu 1310 thì họ Phùng Thọ Am có lịch sử khoảng 700 năm. Do hoàn cảnh đất nước chiến tranh liên miên, cộng với đói nghèo nên việc chép phả hoặc không có, hoặc gián đoạn, hoặc thất truyền…Dưới các triều Trần, Lê dòng họ có nhiều cụ tham gia triều chính được phong tước, phong hầu. Cụ “Trần triều quốc sư”, “Tiến công Thị lang”, “Anh liệt tướng quân”, “An viên tướng quân”, “Thọ lộc tử”, “Dật thọ bá”, “Tuấn vũ bá”, “Chủ tử Liệt triều”, “Trung thuận thừa”, “Đô chỉ huy trung sĩ lang”, “Tư vụ hình”.
Họ Phùng Thọ Am làm bách nghệ, đủ nghề, sĩ, nông, công, thương, binh, nho, y, lý, số. Tổ tiên họ Phùng đã từng biết lấy bút nghiên, kinh sử để dựng nghiệp xây nền quốc trụ công thần. Dòng họ có nhiều danh y, có bậc danh y nổi tiếng được phụng sự trong triều, như cụ Phùng Văn Đồng (1713 - 1763) cụ đỗ Sinh đồ, giữ chức “ngự Y phó” viện Thái Y được phong tước “Hoàng Tín Đại Phu” “Giật thọ bá” (triều Lê Trung Hưng). Triều Lê, cụ Phùng Văn Tôn (1731 - 1791) cụ đỗ Tam trường Biền Sinh. Cụ đã cùng tướng Tư Mã Vực đi dẹp giặc, do có công lao, được ban tước “thuộc thị hầu”, “tận tiếp tướng quân”, “am viễn tướng quân”, “quả tướng quân”, “lộc hàm nhất phẩm”.
Theo phả nghề thuốc họ Phùng Thọ Am, cụ Phùng Văn Dương được tuyển vào Tế Sinh Đường - Thái Y Viện triều đình từ 1653, đến đời con là lương y Phùng Văn Đồng (1713 - 1763), ông phục vụ trong quân đội, được phong chức Tiến công Thứ lang kiêm Ngự y. Đời thứ ba, lương y Phùng Văn Côn (1743 - 1822), được điều vào Thái Y Viện, giữ chức Phó Ngự Y triều đình. Dưới triều vua Quang Trung, cụ Côn có công lớn trong chiến dịch đại phá quân Thanh năm1789, cụ được phong “Oanh liệt Tướng quân” và ban thưởng đôi đũa Kim Giao thử độc cùng đồng tiền vàng “Nhất phẩm đương triều”. Những báu vậttrên vẫn được lưu giũ đến ngày nay. Đầu thế kỷ XX, hậu duệ đời thứ 14 là lương y Phùng Đức Hậu, nguyên chủ tịch Hội Đông y Thường Tín đã lập Nhà thuốc Thọ Xuân Đường tại chợ Vồi (tại thị trấn Thường Tín Hà Nội). Nhà thuốc không chỉ là nơi khám chữa bệnh, mà còn là cơ sở hoạt động cách mạng bí mật của nhiều nhà cách mạng như Đỗ Mười, Nguyễn Thọ Chân, Bạch Thành Phong,...Nhà thuốc đã góp phần trong công cuộc kháng chiến chông Pháp thắng lợi, Chính phủ đã thưởng Bằng có công với nước và kỷ niệm chương kháng chiến cho cụ Hậu. Kế tục truyền thống trị bệnh cứu người, lương y Phùng Đức Đỗ (đời thứ 15) nguyên Chủ tịch Hội Đông y huyện Thường Tín tiếp tục công hiến cho nghề cao quí, lấy phương châm”chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ”, coi đó là kim chỉ nam cho hoạt động Nhà thuốc. Hiện nay Tiến sĩ - Lương Y Phùng Tuấn Giang, hậu duệ đời thứ 16, người kế tục và phát triển Nhà thuốc Thọ Xuân Đường. Ông được đào tạo chính qui tại Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam, học tập nhiều danh y nổi tiếng trong nước và quốc tế vận dụng kiến thức hiện đại nhằm hoàn thiện phương pháp Nam Y học tổng hợp. Tiến sĩ Giang đã nghiên cứu, bào chế nhiều bài thuốc điều trị bệnh nan y, trong đó có các bệnh ung thư, xơ gan, viêm loét dạ dày,tự miễn,...bằng việc kết hợp y học cổ truyền với các máy chẩn đoán DDFAO - PRO MEDISCAN M, siêu âm, đo kinh lạc vi tính. Năm 2013, Nhà thuốc Thọ Xuân Đường được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (VietKings) xác lập “Nhà thuốc gia truyền nhiều đời nhất Việt Nam”! Hiện nay, dòng họ có 345 hộ, 950 khẩu, 108 đảng viên, 96 người tham gia quân đội trong đó có 38 sĩ quan quân đội và công an, 8 cấp tá, 30 cấp úy, 5 liệt sĩ, có một gia đình là cơ sở cách mạng nuôi giấu cán bộ của xứ ủy Bắc kỳ thời kỳ 1938, gia đình được tặng “Bằng có công với nước”. Con em dòng họ có 118 người tốt nghiệp đại học, 14 người tốt nghiệp thạc sĩ, 3 tốt nghiệp tiến sĩ là: Phùng Văn Hải TS Sử học, Phùng Tuấn Giang TS Y học cổ truyền, Phùng Tuấn Anh TS Kinh tế. Họ Phùng Thọ Am thời nào cũng vậy, dòng họ luôn có truyền thống đoàn kết. Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, họ luôn kề vai sát cánh cùng các dòng họ trong làng dựng nước, và giữ nước.
Họ Phùng Hoành Sơn, Giao Hà, Ngô Đồng, huyện Giao Thủy,tỉnh Nam Định.(biên tập theo tài liệu ông Phùng văn Xuân Trưởng ban liên lạc dòng họ) Theo thần phả, tộc phả và bia ký của dòng họ, khoảng đầu thế kỷ XVII (1630 - 1640, thời Lê Trung Hưng), cụ tổ họ Phùng từ Thạch Thất về chiêu đinh thiết ấp, khai khẩn điền lương lập làng Hoành Nhị. Theo phả tộc họ Phùng làng Ngưu Trì, xã Nam Cường, huyện Nam Trực tỉnh Nam Định thì thủy tổ họ Phùng làng Hoành Nhị là anh trai thủy tổ Phùng Phúc Quý thuộc họ làng Ngưu Trì, là hai con đẻ của Thái thường tự khanh Phùng Khắc Trung tự Phúc Hiền. Bước đầu có thể khẳng định: Thủy tổ họ Phùng làng Hoành Nhị là hậu duệ của danh nhân văn hóa Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Quá trình hình thành và phát triển dòng họ, đến nay đã gần 400 năm, họ Phùng làng Hoành Nhị có 14 đời, 4 cành, 23 chi. Tổng số đinh: 3500 người.Tổng nhân khẩu 6.500 người. Mẹ Việt Nam anh hùng: 04 mẹ (mẹ Phùng Thị Mùi - Giao Hà, mẹ Phạm Phiếm tức Phùng Thị Chước - Giao Hà, mẹ Phùng Thị mai - Giao Hương, mẹ Phùng Thị Hợp - Giao Thanh). Liệt sĩ: 46 người, thương bệnh binh: 150 người.Tham gia lực lượng vũ trang: 613 người. Phó giáo sư, Tiến sĩ 04 người (Phùng Hà, Phùng Tôn Quyền, Phùng Hiếu, Phùng Đức Nam).Cục trưởng thuộc Bộ Công Thương 01 người là tiến sĩ Phùng Hà. Trên 100 sĩ quan quân đội và công an. 2 Đại tá Quân đôi: Phùng Quang Liệu, Phùng Thế Vinh, 1 Đại tá Công an: Phùng Xuân Quang. 4 Thượng tá công an: Phùng Thiện Hảo, Phùng Toàn Thắng, Phùng Hữu Chinh, Phùng Văn Chiến. Bí thư, Chủ tịch huyện 01người: Phùng Nguyễn Nghinh Có 7 người là cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện và xã: Phùng Văn Nhân, Phùng Ngọc Quản, Phùng Xuân Thanh, Phùng Hữu Hoành, Phùng Hữu Tuần, Phùng Hữu Huân, Phùng Thế Truyền.
Tìm về cội nguồn, hương hoa cúng lễ cụ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan tại xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Biết được chủ trương của Hội đồng họ Phùng Viết Nam, dòng họ đã báo cáo và được sự đồng ý của lãnh đạo huyện Giao Thủy và lãnh đạo các xã, thị trấn Hoành Sơn, Giao Hà, Ngô Đồng, tại nhà Trung tâm văn hóa huyện Giao Thủy, dòng họ Phùng Hoành Nhị Giao Thủy đã tổ chức đón nhận bức tranh chân dung Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan bằng chất liệu sơn mài về nhà thờ Tổ. Đây là việc làm có ý nghĩa sâu sắc, thể hiện sự thành kính, tri ân công đức của con cháu với tổ tiên, đồng thời tạo tiền đề để giáo dục các thế hệ con cháu Phùng tộc noi gương tổ tiên, ra sức tu dưỡng rèn luyện để trở thành người có đức, có tài phụng sự gia đình, dòng họ và tổ quốc. Hàng năm vào dịp 8 tháng Giêng giỗ Vua - Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, dòng họ đều cử đoàn đại biểu rước lễ về đền Đường Lâm cúng thánh.