(Thứ bảy, 14/03/2026, 10:20 GMT+7)

 

Tiến sĩ Phùng Thảo
Phó Chủ tịch Hội đồng họ Phùng Việt Nam

 
 


Tiến sĩ Phùng Thảo

 

  1. Thời đại Hồ Chí Minh

 
Nối tiếp truyền thống các bậc tiền nhân, họ Phùng Việt Nam kể từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, các thế hệ người họ Phùng Việt đã đồng hành cùng bách họ Việt Nam tham gia cuộc cách mạng vì độc lập dân tộc, giải phóng quê hương đất nước, xây dựng Chủ nghĩa Xã hội. Nhiều thế hệ người họ Phùng đã ngã xuống trong các cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc để bảo vệ độc lập tự do, bảo vệ Đảng, chế độ XHCN, bảo vệ hạnh phúc của nhân dân. Nhiều người họ Phùng không ngừng phấn đấu, vượt qua khó khăn, gian khổ đạt nhiều thành tích trong bảo vệ tổ quốc, trong lãnh đạo, quản lý, trong hoạt động khoa học, giáo dục, văn hóa, văn nghệ, trong doanh nhân,...và học tập được Đảng, Nhà nước, nhân dân tín nhiệm, ghi nhận. Họ đã và đang giữ các vị trí trong các lĩnh vực, ngành nghề với cấp độ cao thấp khác nhau trong cơ quan Đảng, Nhà nước, Lực lượng vũ trang nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, tỉnh, huyện và cơ sở. Trong bài viết này tác giả cố gắng sưu tầm, công bố thông tin được tiếp nhận
 
 
1. CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CẤP CAO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
 
Bác sĩ Phùng Văn Cung
Chủ tịch lâm thời Uỷ Ban Trung ương MTDTGPMN Việt Nam, Phó Chủ tịch Chính phủ CMLTCH miền Nam Việt Nam.
 
 -Bác Sĩ Phùng Văn Cung sinh ngày 15/5/1909. Quê quán: làng Tân An, quận Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long (nay là phường 9, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long). Ông có 12 anh em, là con trai thứ năm trong gia đình. Thân phụ ông là Phùng Văn Thân, người có tinh thần đấu tranh chống áp bức, xâm lược của thực dân Pháp. Ông đã hy sinh trong cuộc đấu tranh với lính Pháp đến cướp của đốt nhà của dân. Mẹ bác sĩ Cung là bà Nguyễn Thị Lới, bà là con của một gia đình có quyền thế trong xã hội phong kiến ở Huế, là người phụ nữ chịu ảnh hưởng của Nho giáo, thường xuyên quan tâm chăm sóc, giáo dục các continh thần yêu nước, làm việc tốt cho đời. Thời niên thiếu, bác sĩ Cungcó ý chí, học giỏi, ông được cấp học bổng từ bậc trung học đến đại học.Vợ ông là bà Lê Toại Chi, con một gia đình hào sản ở Cái Tàu (Sa Đéc). Bà Thoại Chi đã theo, chăm sóc chồng ăn, ở trong suốt thời gian chồng học tập tại trường đại học Y Hà Nội.
Tốt nghiệp đại học Y năm 1937, ông bà Cung mở phòng mạch tại Phnôn Pênh Campuchia. Khi Nhật đảo chính Pháp, ông bà trở về quê hương Sa Đéc mở phòng mạch chữa trị bệnh, giúp đỡ dân ngèo. Cách mạng tháng Tám năm 1945 bùng nổ, Phùng Văn Cung tham gia cướpchính quyền tại địa phương.. Năm 1954, ông bí mật cho hai người con trai tập kết ra Bắc, sau này là hai bác sĩ Phùng Ngọc Thạch và Phùng Ngọc Ẩn. Từ năm 1957 đến năm 1958, ông làm Giám đốc y tế tỉnh Châu Đốc (An Giang), Giám đốc y tế tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang), và Giám đốc bệnh viện Phước Kiến ở Chợ Lớn. Là quan chức trong chính quyền Ngô Đình Diệm, nhưng luôn chống lại chính sách của Mỹ - Diệm, có thể nói, “ông là người ăn cơm Quuóc gia, nhưng có tấm lòng cộng sản”, ông là thầy thuốc được đồng bào yêu quí, mến phục vì lòng tận tụy phục vụ bệnh nhân, vì tinh thần yêu nước, ủng hộ cách mạng. Bệnh viện và gia đình bác sĩ Cung không chỉ là nơi chữa trị bệnh mà còn là nơi tổ chức các cuộc họp, học tập nghị quyết của cách mạng.
Tháng 9 năm 1959, Phùng Văn Cung cùng vợ bà Lê Thoại Chi và hai con gái bí mật rời bỏ thành phố, bệnh viện, nhà cửa vào chiến khu miền Đông hoạt động cách mạng đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Vợ ông bà Lê Thoại Chi, người phụ nữ xuất thân từ tầng lớp trên, nhưng dám nghĩ, dám làm, dám chịu đựng gian khổ hy sinh, thương yêu đồng bào đói khổ, căm gét bọ xâm lược và tay sai bán nước. Bà luôn gương mẫu trong hoạt động cách mạng, bà được tín nhiệm bầu làm Hội trưởng Hội phụ nữ tỉnh Sa Đéc, Ủy viên Thường trực Hội Liên hiệp phụ nữ Giải phóng miền Nam. Năm 1955, bà được cách mạng cử ra thăm miền Bắc, bà được gặp Bác Hồ, được Bác mời cùng ăn cơm, Bác đã nói chuện với bà: “Lần đầu tiên mới có một cô gái từ miền Nam ra thăm miền Bắc, khó khăn lắm mới tới đây được hả cháu?”. Trong bữa cơm, bà Thoại Chiđã kể chuyện về tinh thần anh dũng hy sinh của đồng bào miền Nam cho Bác nghe, Bác đã khóc. Sau khi thăm miền Bắc, được gặp Bác Hồ, bà Thoại Chi trở về miền Nam tổ chức cong khai các cuộc đấu tranh, dấy lên phong trào đòi liên hệ hai miền Nam - Bắc. Cuối năm 1966, trên đường đi công tác bà đã hy sinh vì lâm bệnh dọc đường. Chỉ huy đơn vị và Trung đoàn 16 vô cùng thương tiếc bà. Lễ tang bà đuwcj cử hành trọng thể theo nghi thức cấp tướng. Sau ngày Giải phóng, bà Lê Thoại Chi được truy phong là liệt sĩ.
Tại suối Chò, xã Tân Lập, huyện Châu Thành, nay là huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, từ tối ngày 19 tháng 12 năm 1960 đến 1 giờ sáng ngày 20 tháng 12 năm 1960, Hội nghị thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền NamViệt Nam đã được tiến hành trọng thể. Hội nghị đã kéo dài 20 giờ và thành công tốt đẹp.
 Hội nghị long trọng tuyên bố: Thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.
Hội nghị đã bầu Ủy ban Trung ương lâm thời gồm các vị sau đây:

  • Phùng Văn cung;
  • Nguyễn văn Linh, đại diện xứ ủy Nam Bộ;
  • Ung Ngọc Ky, đại diện Đảng Dân chủ miền Nam Việt Nam;
  • Nguyễn văn hiếu, Trưởng ban sáng lập Đảng Xã hội cấp tiến miền Nam Việt nam;
  • Đại tá Lê Thanh, đại diện các lực lượng võ trang Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Bác sĩ Phùng văn Cung được cử làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương lâm thời.
Hội nghị thông qua và công bố chương trình 10 điểm cùng Lời hiệu triệu nhân dân miền Nam đứng lên chống Mỹ - Diệm, đấu tranh cho miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập tiến tới thống nhất đất nước.
Đại hội lần thứ Nhất từ 16/2 đến ngày 3/3/1962, Bác sĩ Phùng Văn cung được bầu làm Phó chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
 Đại hội lần lần thứ Hai từ này 1tháng 11 đến này 8 tháng 11 năm 1964 tại Chà Ruộc, bác sĩ Cung được bầu lại làm Phó chủ tịchỦy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
 Tháng 3 năm 1969, bác sĩ Phùng Văn Cung, Phó chủ tịch MTDT Giải phóng miền Nam, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của miền Nam, Chủ tịch Hội Hồng thập tự giải phóng miền nam Việt Nam, sứ giả có một không hai của đồng bào miền Nam làm Trưởng phái đoàn quân dân miền Nam ra thăm miền Bắc.
Từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 6 năm 1969, Đại hội đại biểu quốc dân đã họp, Đại hội thông qua nghị quyết khẳng định:Chế độ cộng hòa Việt Nam, Chính phủ và Ủy ban các cấp, Hội đồng cố vấn chính phủ, thông qua Cương lĩnh cách mạng. Tại Đại hội bác sĩ Phùng Văn Cung đã đọc Nghị quyết Đại hội, long trọng tuyên bố nền Cộng hòa, đề ra đường lối đối nội, đối ngoại, qui định chế độ chính trị, quốc kỳ, quốc ca, tiêu ngữ của chế độ Cộng hòa miền Nam.
Trong suốt cuộc kháng chiến hy sinh, gian khổ, hiểm nguy ở chiến trường chống Mỹ và tay sai, bác sĩ Phùng Văn Cung đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ông đã cùng các thành viên Mặt trận cống hiến toàn bộ sức lực, trí tuệ của mình cho sự ra đời của Mặt trận DTGP miền Nam, Chính phủ Cách mạng LTCH miền Nam, Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới miền Nam, Hội Hồng thập tự giải phóng miền Nam,...góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bác sĩ Cung trở lại sống ở Sài Gòn, ông sống lạc quan, giản dị, gần gũi đồng bào đồng chí. Cuối năm 1987, ông mắc bệnh hiểm nghèo về ở với vợ chồng người con trai bác sĩ Phùng Ngọc Ẩn và con dâu bác sĩ Lê Thị Kim Hà tại số nhà         671/4 phố Nguyễn Kiệm, quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí minh. Hồi 4 giờ 50 phút ngày 7 tháng 11 năm 1987, bác sĩ Phùng Văn Cung đã vĩnh viễn ra đi!
Thương tiếc và nhớ về nhà tri thức cách mạng tiêu biểu miền Nam, bác sĩ Phùng Văn Cung - Phó Chủ tịch Mặt trận DTGPMN, Phó Chủ tịch Chính phủ cách mạng LTCHMN, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới miền Nam, Chủ tịch Hội Hồng thập tự giải phóng miền Nam đã đấu tranh đến hơi thở cuối cùng vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước,vì hạnh phúc của nhân dân, ở quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí minh có một con hẻm được thành phố đặt tên bác Sáu Cung - Phùng Văn Cung!
 
 
Anh hùng lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam Việt Nam
Đại tướng Phùng Quang Thanh
Ủy viên Bộ chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng.
 
- Ông Phùng Quang sinh ngày 2/2/1949 tại thôn 4, xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc nay là thành phố Hà Nội. Thân phụ ông là cụ Phùng Văn Sức, sinh năm 1917, hoạt động cách mạng, hy sinh ngày 12/5/1951, cụ là liệt sĩ chống Pháp. Mẹ ông là cụ Đỗ Thị Thoa. Tuổi thơ của ông Thanh rất vất vả, lên 2 tuổi mồ côi cha, lên 4 tuổi mẹ tái giá, bé Thanh ở với bà ngoại, bé Thanh phải mò cua, bắt ốc, kéo vó tôm, nhặt phân trâu đổi điểm cho HTX lấy thóc ăn, vừa lao động, vừa học tập, học ở nhà, học bạn bè, học trên lớp, tự lực tự cường...
Tháng 7 năm 1967, Phùng Quang Thanh nhập ngũ, trở thành anh bộ đội cụ Hồ. Bắt đầu từ đây mở sang trang sử mới cho một Binh nhì Thanh trở thành anh hùng lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam Việt Nam, Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Ngày11/6/1068, Phùng Quang Thanh được kết nạp vào Đảng Lao đông Việt Nam. Ngày 20/9/1971Phùng Quang Thanh được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt nam tặng danh hiệu cao quí Anh hùng Lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam, khi được tuyên dương anh Hùng Phùng Quang Thanh mới 22 tuổi, là Thượng sĩ, Trung đội trưởng thuộc Đại đội 9, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64, sư đoàn 320A.
Từ tháng 10/1971 tham chiến đấu tại Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64, sư đoàn 320B tại chiến trường Quảng Trị, năm 1987 đơn vị của ông được cấp trên điều lên biên giới phía Bắc, ông là sư trưởng sư 390, tháng 8/1988 ông làm sư trưởng sư 312, năm 1991 ông là Tham mưu trưởng Quân đoàn 1, sau đó lại làm sư trưởng sư 312 lần thứ 2 xây dựng sư đoàn chính qui điểm cho toàn quân, tháng 9/1993 ông làm Phó cục trưởng Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu, tháng 6/1995, ông làm Cục trưởng Cục Tác chién Bộ Tổng tham mưu.
Tháng 12/1997, ông làm Tư lệnh trưởng Quân khu 1gồm 6 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang.
Tháng 4/2001, ông được Bộ Chính trị chỉ định làm Ủy viên Thường vụ Đảng ủy quân sự Trung ương, Chủ tịch nước bổ nhiệm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt nam, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Hoàn thành tốt nhiệm vụ Đảng, Nhà nước giao, toàn quân tín nhiệm bầu vào Trung ương và Bộ Chính trị khóa X và khóa XI. Được Bộ Chính trị chỉ định làm Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Quốc hội phê chuẩn Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ Tịch nước thăng quân hàm Đại tướng Quân đội nhân dân Việt nam.
 Các chức vụ:
- Chiến sĩ, năm 1967.

  • Tiểu đội trưởng tiểu đội trinh sát năm 1968; Trung đội phó Trung đội 2 năm 1970; Trung đội trưởng Trung đội 2 năm 1971, Đại đội phó Đại đội 9 năm 1971; Đại đội trưởng Đại đội huấn luyện chiến sĩ mới ở Vĩnh Linh năm 1972; Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 9 năm 1973 ở Quảng Trị; Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 năm 1974; Tham mưu Trung đoàn 64 năm 1976; Trung đoàn phó năm 1979; Sư đoàn phó năm 1983; Sư đoàn trưởng Sư 390 năm 1987; Sư đoàn trưởng Sư 312 năm 1988; Tham mưu trưởng Quân đoàn I năm 1991; Sư đoàn trưởng Sư 312 lần thứ 2 năm 1991; Phó Cục trưởng Cục Tcá chiến, Bộ Tổng tham mưu năm 1993; Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng tham mưu năm 1995; Tư lệnh Quân khu I năm 1997; Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam năm 2001; Phó Bí thư Quân Ủy Trung ương 2006 2016; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng 2006 - 2016.
  • Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm và cứu nạn; Phó Ban chỉ đạo Nhà nước về Biển Đông và hải đảo; Phó Ban chỉ đạo Nhà nước về Xây dựng và phát triển Công nghiệp Quốc phòng; Ủy viên Ban cán sự Đảng Chính phủ khóa X và khóa XI; Đại biểu Quốc hội XI, XII, XIII; Ủy viên Ủy ban Quốc phòng - An ninh của Quốc hội.
  • Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa: IX, X, XI (2001 - 2016); Ban chấp hànhTrung ương Đảng Cộng sản Viẹt Nam đã bầu vào Bộ Chính trị khóa X và XI (2006 - 2016).

 Phong Quân Hàm:

  • Binh nhì năm 1967; Binh nhất năm 1968; Trung sĩ năm 1969; Thượng sĩ năm 1970.
  • Thiếu úy năm 1971; Trung úy năm 1972; Thượng úy năm 1974; Đại úy năm 1976;
  • Thiếu tá năm 1979; Trung tá năm 1981; Thượng tá năm 1787; Đại tá năm 1989.
  • Thiếu tướng năm 1994; Trung tướng năm 1999; Thượng tướng năm 2003; Đại tướng năm 2007.

Sau hơn 50 năm hoạt động cách mang, dù ở bất cứ cương vị công tác nào, ông Phùng Quang Thanh đều hoàn thành xuất sắcnhiệm vụ được giao. Ở đâu và lúc nào ông Thanh cũng được nhân dân yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ, luôn nhận được sự giáo dục của Đảng, Nhà nước, Quân đội, đồng đội, đồng chí. Khi còn công tác, tiểu đội ông gắn bó nhất là Tiểu đội Trinh sát “vào sinh ra tử” có nhau “chia ngọt sẻ bùi” cùng nhau, sẵn sàng hy sinh cho nhau; với bà con xóm làng Thạch Đà quê hương yêu dấu, dù đi đâu, về đâu ông đều đau đáu nhớ về miền quê yêu dấu: - “ông nguyên quán ở Thạch Đà, trú quán ở Hà Nội, và vĩnh viễn quê quán cũng là Thạch Đà”; Với họ Phùng Việt Nam, ông phấn khởi, tự hào được dòng họ mời làm thành viên Hội đồng cố vấn dòng họ, ông đã làm hết sức mình những việc làm có thể; với gia đình, ông Thanh mồ côi cha khi chưa đầy 2 tuổi. Cuộc sống lam lũ, khó khăn của ông thời thơ ấu cũng như bao đứatrẻ nghèo khó đã tôi luyện tình cảm, ý chí, nghị lực phấn đấu vươn lên làm cho tình cảm của Phùng Quang Thanh càng thêm kính yêu ông bà, cha mẹ bội phần sâu sắc. Trong gia đình, ông sống giản dị, gần gũi mọi người, thương yêu con cháu.
Ngày 11/9/2021, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã đi xa! Tiếc thương vị Đại tướng tài năng, thẳng thắn mà chân thành, giản dị mà khiêm tốn, nhân ái mà bao dung, “người chiến sĩ Cộng sản bản lĩnh, mưu lược, quyết đoán, quả cảm; người lãnh đạo chỉ huy tài ba, có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân; người đảng viên cộng sản trung kiên, suốt đời cống hiến, hy sinh vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”, Đại tướng Phùng Quang Thanh là “một anh hùng thời chiến” và là “người kiến tạo thời bình”.
 Khen thưởng :
-Huân chương Hồ Chí Minh.
-Đảng, Nhà nước, nhân dân phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 20/9/1971.
-Huân chương Chiến công hạng Nhât; Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba; Huân chương Chiến sĩ Vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Nhât; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huân chương Hữu nghị của Liên bang Nga do Tổng thống Nga Puti tặng; Huân chương Tự do hạng Nhất của nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân lào; Huân chương Hữu nghị của Nhà nước Vương quốc Campuchia, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và nhiều phần thưởng cao quí khác.
 
Luật sư Phùng Văn Tửu, Phó chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam khóa VIII - IX
 
 Luật sư Phùng Văn Tửu sinh ngày 22/7/1923. Quê quán: xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Ông là con thứ hai và là trai lớn trong gia đình có 9 người con, 5 gái, 4 trai. Gia đình ông có 4 người con đều có tên là Phùng văn Tửu (Chị gái là bà Phùng Lê Trân, nguyên chủ tọa phiên tòa xét xử vụ án Tạ Đình Đề nổi tiếng những năm 1970, tuyên án ông Tạ Đình Đề vô tội, bất chấp sức ép từ các phía; em trai Giáo sư Phùng Văn Tửu, nhà giáo ưu tú, dịch giả, nhà nghiên cứu văn học Pháp và văn học phương Tây thế kỷ XX. Ông nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật; em trai nhà giáo ưu tú Phùng Văn Tửu, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng nghề cơ khí Nông nghiệp; em trai Phùng Văn Tửu (Tửu út), ông là sĩ quan QĐND, chuyển ngành làm Giám đốc nông trường Ba Vì. Thân phụ ông là Phùng văn Trinh, mẹ là cụ Lê Thị Cầu. Cụ Phùng văn trinh là nhà giáo yêu nước, cụ có công góp phần truyền bá chữ quốc ngữ và tình yêu quê hương, đất nước cho nhiều thế hệ cách mạng ở vùng Nam Sách Hải Dương Tên cụ đã được chính quyền và nhân dân đặt cho Trường Tiểu học Phùng Văn trinh, xã Đồng Lạc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
 Luật sư Phùng Văn Tửu tham gia hoạt động cách mạng năm 1945, vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 12/1946. Năm 1947 ông làm Phó bí thư huyện ủy Hạc Trì, tỉnh Phú Thọ; Năm 1948, ông làm Phó bí thư, kiêm Chánh án Tòa án nhâ dân Hạc Trì - Lâm Thao; Năm 1954 - 1957 ông công tác ở Bộ Tư pháp làm Phó Chánh văn phòng Bộ Tư Pháp; Năm 1959 đến 1980 ông đi học tại Trường Đảng Cao cấp Nguyễn Ái Quốc, học xong ông làm hiệu trưởng Trường cán bộ Tư pháp (nay là Trường Đại học Luật Hà Nội); Năm 1981, ông làm Thứ trưởng Bộ Tư pháp, Ủy viên Ủy Ban Pháp luật Quốc hội; Năm 1987, ông là Đại biểu Quốc hội khóa VIII, Phó chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Bí thư Đảng ủy cơ quan Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước Việt Nam, sau đó ông làm Tổng thư ký Hội Luật gia Việt Nam, năm 1992 ông làm Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam Tháng 9/1992, ông được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa IX, Quốc hội bầu ông làm Phó chủ tịch Quốc hội khóa IX nước Công hòa XHCN Việt Nam.
 Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, dù khó khăn hay thuận lợi, ở bất cứ cương vị công tác nào Luật sư Phùng Văn Tửu cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ông mất ngày 17/7/1997 khi còn đương nhiệm, Lễ tang được tổ chức theo nghi thức lễ tang cấp Nhà nước, an táng tại nghĩa trang Mai Dịch Hà Nội. Thương tiếc và ghi nhớ công lao của Luật sư Phùng Văn Tửu, Đảng, Nhà nước đã tặng thưởng ông: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huân chương chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất. Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.
 
 
Tiến sĩ Phùng Quốc Hiển, Phó Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hóa XIV (2016 - 2020)
 
TS Phùng Quốc Hiển sinh ngày 6 tháng 4 năm 1958 tại thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái (quê gốc xã Yên Luật, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ). Cha đẻ ông là cụ Phùng Văn Tài, sinh năm 1921, quê quán xã Yên Luật, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, tham gia hoạt động cách mạng năm 1945, Đảng viên Đang CSVN, Hiệu Phó Trường Sư Phạm tỉnh Phú Thọ đến khi nghỉ hưu. Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng III, Huân chương chống Mỹ hạng Nhất. Mẹ đẻ cụ Nguyễn Thị Yến, sinh năm 1930, Đảng viên Đảng CSVN, Trưởng cửa hàng Bách hóa tỉnh Yên bái, Huy chương Kháng chiến chống Pháp, Huân chương chống Mỹ hạng Nhất, chiến sỹ thi đua toàn quốc. Tốt nghiệp đại học Tài chính Kế toán 1980, bảo vệ luận văn tiến sĩ Kinh tế chuyên ngành Tài chính Tín dụng Đại học Kinh tế Quốc dân. Ông Phùng Quốc Hiển là cán bộ được đào tạo bài bản, ông được phân công nhiệm vụ đúng ngành nghề, trưởng thành từ cơ sở, huyện, tỉnh đến cán bộ lãnh đạo cấp cao của Quốc hội. Các nhiệm vụ ông Hiển được phân công trong hơn 40 năm công tác:
 - Cán bộ thu quốc doanh sở Tài chính, Phó phòng, Trưởng phòng Thu địa phương Hoàng Liên Sơn, Trưởng phòng Tài chính huyện Văn Yên Hoàng Liên Sơn, Chi cục phó Ko bạc, Cục phó Cục Thuế Hoàng Liên Sơn, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Yên bái.
- Tỉnh ủy viên, Chánh văn phòng tỉnh ủy, Ủy viên Thường vụ Trưởng ban Tổ chức tỉnh ủy Yên Bái, Bí thư huyện ủy Lục Yên, Phó chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái, Phó bí tỉnh ủy, chủ tịch UBND tỉnh, Bí thư tỉnh Yên Bái.
- Năm 2005 - 2015, Ủy viên Ban thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính ngân sách Quốc hội khóa XII và khóa XIII.
- Năm 2016 - 2020, từ kỳ họp 11 khóa XIII và khóa XIV, Phó chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
- Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện hai khóa, cấp tỉnh ba khóa, Đại biểu Quóc hội khóa XII, XIII, XIV.
- Ủy viên Ban chấp hành tỉnh ủy Yên bái Ba khóa, Ủy viên Trưng ương Đảng các khóa X, XI, XII.
Hơn 40 năm công tác, 25 năm ông Hiển làm đại biểu do dân cử, trong đó có 14 năm là Đại biểu Quốc hội. Ông đã có mặt ở khắp các vùng miền của đất nước, từ miền núi không đường, không điện ở các bản làng heo hút huyện Trạm Tấu, huyện Mù Căng Chải, huyện Lục Yên, nhiều xã, bản làng hẻo lánh như xã Chế Tạo, Phúc Than, Tam Đường, Thu Lũng huyện mường Tè Lai Châu, đến những vùng khó khăn tận cà Mau, huyện đảo Trường Sa, ông đã đi, đã đến, đã nghe dân nói, cùng ăn, cùng ở, nói lại cho dân nghe, đề xuất với Đảng, Chính phủ những kiến nghị của dân thấu tình đạt lý, làm cho dân hiểu, dân tin. Ông Hiển đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ người đại biểu nhân dân. Như lời phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân trong phim “Thấu chuyện bản làng định việc quốc gia”, ông Hiển đã đóng góp vào sự nghiệp xây dựng phát triển kinh tế, quốc phòng, an ninh vào quá trình đổi mới của quốc hội thiết thực, hiệu quả: Tham mưu đề xuất với Đảng, Nhà nước chủ trương, giải pháp phục hồi và phát triển kinh tế đất nước ; đề xuất Đảng, Nhà nướcc chính sách, đổi mới đầu tư công có hiệu quả; đề xuất cơ chế chính sách xây dựng và phát triển đường tuần tra biên giới; đề xuất cơ chế chính sách đóng tàu Kiểm ngư, tàu Cảnh sát biển. Khi làm Bí thư tỉnh Yên bái đưa ra chủ trương “đường ta làm ta đi” với cơ chế dân tự lực 90 %, Nhà nước hỗ trợ 10% chủ trương này trở thành phong trào rộng khắp địa phương; đề xuất Quốc hội chỉ đạo Đề án “An ninh nguồn nước, an toàn hồ đập”, Đề án”Phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số”, Đề án “Đổi mới hoạt động của Quốc hội: Thực hiện tranh luận trong quốc hội”... Ông sống và làm việc sôi động, nhiệt huyết, thẳng thắn, các ngành, các lĩnh vực do ông phụ trách anh em rất trân trọng, quý mến, những đóng góp của ông cho công việc trên là có ý nghĩa to lớn. Ông là người đại biểu dân cử mẫu mực, luôn gương mẫu, có tư duy sáng tạo và đổ mới, nhưng cũng là người rất kiên định với các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.
Khen thưởng: Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Ba, Huân chương Đoàn kết các dân tộc, Huân chương Tự do hạng Nhất của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và nhiều phần thưởng cao quí khác.
 
 
2. ỦY VIÊN TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, BỘ TRƯỞNG
 
Phùng Hữu Phú
-Sinh ngày 9/8/1948.
-Quê quán: xã Đại An, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
-Ông Phùng Hữu Phú được Đại hội Đảng Công sản Việt Nam các khóa Chín và khóa Mười bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, X (2001-2011).
 - Giáo sư Tiến sĩ, Nhà giáo ưu tú, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa IX và khóa X (2000 - 2010), Ủy viên Ban Thường vụ thành ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo thành ủy, Trưởng Ban Đại học thành ủy Hà Nội. Phó Bí thư Thường trực thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội 2001-2006. Phó trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng lý luận Trung ương.
-Huân chương Độc lập hạng Nhất và nhiều phần thưởng cao quí khác.
 
 
Phùng Thanh Kiểm
-Năm sinh: 1958.
-Quê quán: xã Thiện Long, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
-Dân tộc: Nùng.
-Ông Phùng Thanh Kiểm, Ủy viên Thường vụ tỉnh ủy, Giám đốc Công an tỉnh, Phó bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn, được Đại hội Đảng toàn quốc khóa Mười Một bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X, Bí thư tỉnh ủy Lạng Sơn (2012-2016).
 
Phùng Xuân Nhạ
-Sinh ngày 3 tháng 6 năm 1963.
-Quê quán: thôn Hạ Cát, xã Tống Phan, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
-Ông được Đại hội Đảng toàn quốc các khóa Mười Một và Mười Hai bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (dự khuyết), khóa XII (2011-2020).
-Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo từ năm 2016 đến năm 2021.
- Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương.
 
 
3. THỨ TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN CƠ QUAN ĐẢNG, ĐOÀN THỂ Ở TRUNG ƯƠNG
 
 
Phùng Trần Hương

  • Sinh ngày 21/4/1949.
  • Quê quán: phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Chức vụ: Bí thư Đảng ủy, Phó Trưởng ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương, sau đó Phó trưởng ban Tổ chức Trung ương.

 
Phùng Ngọc Hùng

  • Sinh ngày 29/12/1950.
  • Quê quán: phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
  • Chức vụ: Phó chủ nhiệm UBDS - KHHGD, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

 
Phùng Khắc Kế

  • Sinh ngày 3/4/1948.
  • Quê quán: Huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
  • Chức vụ: Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

 
Phùng Đức Tiến

  • Sinh ngày 2/10/1964,
  • Quê quán: Tỉnh Bắc Ninh.

 Chức vụ: Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Công nghệ của Quốc hội, Chủ tịch Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam - Israen.

  •  Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

 
Phùng Khánh Tài
- Sinh ngày 31/1/1973
- Quê quán: xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà nội.
 Chức vụ: Ủy viên Thường vụ Trung ương đoàn, Trưởng Ban Quốc tế Trung ương đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí minh.
 - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy cơ quan, Ủy viên Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chánh Văn phòng Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Phó bí thư tỉnh ủy Phú Thọ, Phó bí thư Đảng ủy Quốc hội VN
 
4. BÍ THƯ, CHỦ TỊCH TỈNH VÀ THÀNH PHỐ
 
Phùng Lưu
(Tên hoạt động cách mạng là Lê Vấn, Nguyễn Vạn)

  • Sinh ngày 19/8/1916.
  • Quê quán: Phường Thủy Dương, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Tham gia Cách mạng trong phong trào Dân chủ 1936 - 1939, tháng 5 năm 1945 thoát ly gia đình đi kháng chiến. Đảng ủy viên Khu ủy Khu Trị Thiên, Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.
  • Huân chương Độc lập hạng Nhất và nhiều phần thưởng cao quí khác.

 
Phùng Thanh Kiểm

  • Sinh ngày 13/2/1958.
  • Quê quán: Xã Thiện Long, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
  • Dân tộc: Nùng.
  • Đại tá Công an, Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Công an tỉnh Lạng Sơn, Chủ tịch UBND tỉnh, Bí thư tỉnh ủy Lạng Sơn.

 
Phùng Quang Hùng

  • Sinh ngày 9/5/1955.

- Quê quán: xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đảng viên: 1981.

  • Chức vụ: Ủy viên Thường vụ tỉnh ủy, Trưởng ban Tổ chức tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Phó Bí thư, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc.

 
Phùng Thị Hồng Hà
Sinh ngày: 1/5/1971, Quê quán: Xã ứng Hòa, Hà nội. Vào Đảng: 15/7/1995. Thạc sĩ Tài chính - Ngân hàng. TUV khóa XVI, Thường vụ khóa XVII, Phó bí thư thành ủy khóa XVIII. Chủ tịch HĐND Thành phố Hà Nội. Đại biểu HĐND khóa XIV, XV, XVI.
 
5. CẤP TƯỚNG
 
Đại tướng Phùng Quang Thanh
 
- Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, Anh hùng lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam Việt Nam, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.
 
 
Thượng tướng Phùng Thế Tài
 
 Ông sinh tháng 2 năm 1920, quê xã Do Lễ, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, nay là thành phố Hà Nội.
“Vị tướng của tháng 12 lịch sử”, vị tướng nhà trời”. Tên tuổi của ông được vinh danh tại các bộ từ điển bách khoa trong nước và trên thế giới. Theo quan niệm của triết học phương Đông Thượng tướng Phùng Thế Tài là vị Nhân tướng, vị Thiên tướng (tướng nhà trời). Theo các nhà xã hội học nhân văn, Ô là người Anh hùng lịch sử chống ngoại xâm, anh hùng văn hóa - quân sự. Theo quan niệm hiện đại của các văn hóa nghệ thuật, Ô là huyền thoại anh hùng ca thời đạ Hồ Chí minh.

  • Thượng tướng Phùng Thế Tài - bậc lão thành cách mạng, do có nhiều công lao với cách mạng, ông được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất. Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng. Ông là Tư lệnh đầu tiên Quân chủng Phòng không - Không quân, Phó tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam. Tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Lào Cai đã đặt tên phố mang tên Phùng Thế Tài. Ông mất năm 2014, lễ tang ông theo nghi thức cấp Nhà nước.

 
 
Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn
 
-Ông sinh ngày 25/8/1966.        
- Quê quán: Phường Hùng Vương, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam 24/3/1989.
-Chức vụ: Năm 2013 sư trưởng sư 316. Tháng 8 năm 2013 Ủy viên Ban Thường vụ tỉnh ủy, Đại tá Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Vĩnh Phúc. Tháng 5 năm 2015, Thiếu tướng, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu II. Tháng 8 năm 2016, Phụy trách Tư lệnh Quân khu II. Năm 2017 Tư lệnh Quân khu II. Năm 2019 Phó Tổng tham Mưu trưởng QĐND Việt Nam. Ngày 4 Tháng 7 năm 2020, Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn là Bí thư Đảng ủy cơ quan Bộ Tổng tham mưu QĐND Việt Nam, Phó Tổng Tham mưu QĐNDVN.
 
Trung tướng Phùng Khắc Đăng
 

  • Phùng Khắc Đăng, Bí danh: Phùng Thạch Sơn.
  • Sinh ngày 15 tháng 8 năm 1945.
  • Quê quán: Thôn Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây, nay là thành phố Hà Nội.
    • Ông trưởng thành từ binh Nhì, chiến sĩ, tham gia chiến đấu các chiến trường Quân khu V, chiến trường Campuchia. Từ năm 1990, ông là Đại tá, Hiệu phó, Bí thư Đảng ủy Trường Sĩ quan Chính trị - Quân sự Bộ Quốc phòng. Từ năm 1993 - 1998, ông là Phó Tư lệnh Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân khu I, Thiếu tướng, Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN. Từ 2007-2016, ông là Phó Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Việt Nam, Bí thư Đảng ủy cơ quan Trung ương Hội Cựu Chiến binh Việt Nam. Cuộc đời binh nghiệp của Trung tướng Phùng Khắc Đăng kéo dài 40 năm, từ người lính binh Nhì đến Trung tướng, từ người chiến sĩ quân đội lên đến Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN, dù trong hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn, dù ở cương vị công tác nào, ông Đăng đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
    • Trung tướng Phùng Khắc Đăng đã được Đảng, Nhà nước tín nhiệm giao nhiệm vụ: Thành viên đối thoại Việt - Mỹ về chất độc da cam di-ô-xin; Ủy viên Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam; Đại biểu Quốc hội khóa XIII nhiệm kỳ (2011-2016); Ủy viên Ban Quốc phòng và An ninh Quốc hội.
    • Khen thưởng: Hai Huân chương Độc lập hạng Ba; Huân chương chiến công hạng Nhất; 02 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.

 
Thiếu tướng Phùng Quang Bích
 
Sinh ngày 16/8/1922. Thân phụ: Cụ ông Phùng Văn Được, thân mẫu cụ bà Nguyễn Thị Thắng. Ông là con trai thứ hai trong gia đình có 9 anh chị em. Khi còn công tác, tổ chức làm hồ sơ của ông đã ghi là Nguyễn Quang Bích, ông nghĩ rằng, họ Nguyễn là họ mẹ của mình, nên ông Nguyễn Quang Bích đã không đề nghị tổ chức sửa lại hồ sơ theo họ bố, và từ đó đồng chí có họ và tên là Nguyễn Quang Bích(theo lời kể của phu nhân thiếu tướng Phùng Quang Bích, bà Đinh Thị Kim Thoa).
Quê quán: Phường Thọ Lão, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Tham gia cách mạng: 20/8/1945.
Vào Đảng năm 1947.
Chức vụ: Trưởng thành từ chiến sĩ lên Tiểu đội phó, Tiểu đội trưởng, Trung đội phó, Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng giải phóng quân Hà Nội.
+ Tháng 3 năm 1946, giữ chức Chi đội phó Chi đội Kon Tum Liên khu 5.
+ Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông giữ các chức vụ: Tháng 12 năm 1946, là Trung đoàn phó Trung đoàn 95 liên khu 5; Năm 1947 là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 50, Trung đoàn 120 Liên khu 5; Năm 1948: Trung đoàn phó Trung đoàn 108 Quảng Nam - Đà Nẵng; Năm 1952: Tham mưu phó Mặt trận miền Tây; Năm 1947: Trung đoàn phó Trung đoàn pháo cao xạ 367 thuộc Đại đoàn pháo binh 351; Năm 1953: Tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trên cương vị Chỉ huy trưởng pháo cao xạ; Tháng 10 năm 1954: Trung đoàn trưởng rồi Tham mưu phó Đại đoàn pháo cao xạ Bộ Tư lệnh pháo binh.
+ Năm 1956 học pháo cao xạ ở Trung Quốc.
+ Tháng 10 năm 1956 (hoặc năm 1960) Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Phòng không.
+ Trong kháng chiến chống Mỹ phụ trách chỉ huy pháo binh (pháo binh cao xạ Nam Bộ). Chủ nhiệm phòng không miền Nam, Thường vụ Đảng ủy pháo binh miền Nam.
+ Năm 1963: Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân.
+ Tháng 12 năm 1966, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội (Sư trưởng Sư đoàn 361 PK-KQ).
+ Tháng 8 năm 1970, Phó Tư lệnh Đoàn 559, Phụ trách phòng không Trường Sơn (Sư trưởng sư 337 bảo vệ giao thông Khu 4).
+ Tháng 9 năm 1972, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Đảng ủy viên Quân chủng, trực tiếp chỉ huy trận đánh đầu tiên của Quân chủng trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không.
+ Tháng 10 năm 1973, Trưởng đoàn nghiên cứu các chiến trường miền Nam.
+ Tháng 8 năm 1974, Học Cao đẳng Phòng không ở Ô-Đéc-Xa, Liên Xô.
+ Tháng 7 năm 1975, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân.
+ Tháng 6 năm 1977, Trưởng khoa Chỉ huy Học viện Quân sự cấp cao.
+ Năm 1979, Phân viện phó Phân viện Nghiên cứu chiến lược Học viện Quân sự cao cấp.
+ Tháng 9 năm 1983, Chủ nhiệm khoa Quân chủng (Khoa chỉ huy tham mưu) Học viện Quân sự cấp cao.
+ Tháng 12 năm 1982, Thăng quân hàm Thiếu tướng.
Khen thưởng:
+ Ngày 9/10/2014, Chủ tịch nước đã ký Quyết định truy tặng ông danh hiệu Anh hùng lực lực vũ trang nhân dân.
+ Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Nhì.
+ Huân chương Chiến công hạng Nhì.
+ Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng Nhất.
+ Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
+ Huân chương Giải phóng hạng Ba.
+ Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.
+ Huy hiệu 40 năm, 50 năm tuổi Đảng.
Ông nghỉ hưu năm 1991theo qui định.
Ông mất ngày 17 tháng 7 năm 2010.
 
Thiếu tướng Phùng Đình Ấm
(Tên hoạt động Cách mạng Khăm Tằn, Ba Cung)
 
- Sinh năm 1929.
Quê quán: Xã Vạn Định (Dương Liễu, thị trấn Bình Dương), huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Ông nghỉ hưu theo qui định tại 52 cư xá Tự Do, phường 7, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.
- Hội viên Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh; Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.
Tham gia Cách mạng tháng 8 năm 1945: Giành chính quyền ở Phù Mỹ, tham gia quân đội chiến đấu liên tục ở chiến trường khu 5, tham gia Đoàn B90 mở đường Hồ Chí Minh từ Nam Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ, làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn ở Campuchia. Ông đã cà răng, đóng khố, cùng sống và làm việc với đồng bào thiểu số. Biết nói đọc tiến Mnông, Khme.
- Chức vụ:
+ Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Phó Tư lệnh Đoàn Chuyên gia Mặt trận Campuchia.
 Để bạn đọc hiểu đầy đủ về vị Thiếu tướng trận mạc Phùng Đình Ấm, tác giả trân trọng giới thiệu lời giới thiệu viết cho cuốn sách “Ba lần gắn bó với đất nước Chùa Tháp” của ông Lê Khả Phiêu, Nguyên Chủ nhiệm Cục Chính trị Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, Nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDViệt Nam, Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
 “Đồng chí Thiếu tướng Phùng Đình Ấm tham gia quân đội từ năm 1947, khi đồng chí 18 tuổi và liên tục 50 năm ở các chiến trường Liên khu 5, Tây Nguyên, Nam Lào và Campuchia.
Trải qua thử thách qua khói lửa, đồng chí đã tỏ rõ là một cán bộ, đảng viên kiên định, vững vàng, liêm khiết, giản dị, tận tâm, tận lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, trong đó có 19 năm là chiến sĩ tình nguyện quân và chuyên gia Việt Nam ở Campuchia, đặc biệt là thời kỳ giúp ban những năm 1978-1981. Để giúp bạn tốt, phải hiểu rõ nhân dân bạn, hiểu rõ truyền thống của dân tộc Campuchia. Muốn vậy phải học tiếng, học chữ nước bạn. Đồng chí đã kiên trì, bền bỉ và chỉ trong thời gian ngắn đồng chí đã thông thạo cả nói và chữ Campuchia, viết và dịch các văn bản từ chữ Campuchia sang chữ Việt Nam rất chuẩn xác, cố gắng tự học và sớm biết tiếng, biết chữ Khơme đã tạo thêm sự thuận lợi khi phối hợp cùng bạn chiến đấu và công tác. Đồng chí đã giành được tình cảm chân thành của nhà nước và nhân dân Campuchia. Đồng chí đã góp phần quan trọng cùng tình nguyện quân và chuyên gia Việt Nam hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế, giúp bạn chống diệt chủng, hồi sinh đất nước, vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị láng giềng Việt Nam - Campuchia sang trang sử mới”.
Thiếu tướng Phùng Đình Ấm mất vào hổi 2 giờ, ngày 26 tháng 2 năm 2011, thọ 83 tuổi.
 
Thiếu tướng Phùng Bá Thường
- Sinh năm 1924.
- Quê ông làng Thu Lũng xã Nghi Thu (nay là Phường Nghi Thu), thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
Ông nội là Phùng Bá Lệ, bố là Phùng Bá Nhạc, mẹ là Nguyễn Thị Thơi, gia đình có 10 anh chị em, ông là con trai thứ 5, được cha mẹ cho ăn học 7 năm chữ nho, 5 năm chữ quốc ngữ. Khi nghỉ hưu ông ở số nhà 172, phố Lê Trọng Tấn, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. (Thiếu tướng Phùng Bá Thường là hậu duệ của Thượng tướng, Đô đốc Phùng Phúc Kiều ở Nghi Thu, Cửa Lò, Nghệ An).
- Ông nhập ngũ ngày10 tháng 2 năm 1946, đại đội 138, đơn vị độc lập ở thành phố Vinh Nghệ An.
- Trung đội phó năm 1949, Trung đội trưởng năm 21/5/1951 đại đội 138, tiểu đoàn 353, trung đoàn 9, sư đoàn 304, từ năm 1950 đến 1951 tham gia chiến dịch Quang Trung trên địa bàn các tỉnh: Hà nam, Nam Định, Ninh Bình.
- 1952 đại đội trưởng đại đội 138, trong chiến đầu đã lập công, được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì.
- 1953 tiểu đoàn phó tiểu đoàn 353 tham gia chiến đấu ở Cánh Đồng Chum Lào, giải phóng nhiều vùng rộng lớn cho bạn. Chiến dịch Thượng Lào kết thúc, cuối tháng 5/1953 đơn vị rút về nước. Sau chiến dịch Thượng Lào được bổ nhiệm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 353.
- Năm 1954, đơn vị hành quân lên Điện Biên Phủ Mường Phăng chiến đấu. 13/5/1954 dự lễ duyệt binh mừng Điện Biên Phủ tại khu đồi phía Đông sở chỉ huy Mường Phăng. Sau đó tiểu đoàn làm nhiệm vụ áp giải 500 tù binh Pháp từ Điện Biên Phủ về thị trấn Mía huyện Thọ Xuân Thanh Hóa để bàn giao cho Cục Địch vận Tổng Cục Chính trị.
- Sau Hiệp Đinh Giơ - ne - vơ, được bổ nhiệm Tham mưu trưởng trung đoàn...
- Năm 1959 đi học tại Học viện quân sự Hoàng Phố Trung Quốc, đầu năm 1964 tốt nghiệp được bổ nhiệm trung đoàn trưởng trung đoàn 66.
- Năm 1964, Phó tổng Tham trưởng Trần Văn Quang giao nhiệm vụ dẫn chỉ huy đơn vị đến Xiêng Khoảng Lào truy quét bọn phỉ Vàng Pao bảo vệ Cánh Đồng Chum Lào, chiến dịch kết thúc thắng lợi, làm cho địch tan rã, nhân dân Lào rất phấn khởi. Hoàn thành nhiệm vụ ông được lệnh đưa đơn vị về nước chuẩn bị vào miền Nam chiến đấu.
- Năm 1965 ông làm trung đoàn trưởng trung đoàn 24, chỉ huy đơn vị chiến đấu trên địa bàn tỉnh Kon tum.
- Năm 1966 - 1967, chỉ huy đơn vị bao vây cứ điểm Tu-Mơ-Rông buộc quân Mỹ Ngụy phải ứng cứu, tạo thời cơ để trung đoàn tiêu diệt Mỹ. 1967 đơn vị tham gia chiến dịch Đắc Tô, làm cho cuộc phản công mùa khô của Mỹ thất bại, chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của Mỹ bị phá sản, kế hoạch hai gọng kìm “tìm diệt”, “bình định” của mỹ mất hiệu lực.
- Ngày 28 Tết Mậu xuân 1968 ông chỉ huy trung đoàn 24 đánh vào thị xã Kon Tum, diệt biệt khu 24.
 - Năm 1969, ông là trung đoàn phó trung đoàn 66, hành quân ra chiến trường Cánh Bắc, hoàn thành nhiệm vụ, chiến dịch Đắc Xiên kết thúc.Có cả cơ cực, cay đắng khi đánh vào thị xã Kon Tum tết Mậu Thân năm 1968,
 - Năm 1971, ông là Trung đoàn trưởng trung đoàn 66, chỉ huy đơn vị đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719 của địch ở đường Chín Nam Lào.
- Năm 1979, Trung đoàn trưởng trung đàn 66, chỉ huy đơn vị tấn công Căn cứ Tân Cảnh, giải phóng thị trấn Tân cảnh.
Sau trận đánh Ngọc Bang và Ngọc Quan, Ông được đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư khen, trung đoàn 66 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba.
- Ngày 20/9/1972, ông làm Tham mưu phó sư đoàn 10, Bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, sư đoàn được giao nhiệm vụ tiêu diệt căn cứ Plei - Cần theo đề nghị của ông, chỉ sau một ngày chiến đấu, sư đoàn10 đã làm chủ căn cử Plei - Cần. Ông tham gia chỉ đạo đánh căn cứ Đắc Xiêng, đánh thắng và làm chủ căn cứ Non Nước, tiêu diệt căn cứ Lam Sơn.
- Tháng 6 năm 1973, ông được Bộ tư lệnh mặt trận cử ra miền Bắc tập huấn.
Ông đã chỉ huy Trung đoàn 66 bám sát trung đoàn 28 vào nội đô, sư đoàn phó Phùng Bá Thường đi trên chiếc xe Yeep do biệt động Sài Gòn lái đến thẳng dinh Độc Lập. 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975 cờ chiến thắng của bộ đội ta đồng thời kéo lên ở 3 mục tiêu : Dinh Độc Lập, Bộ tổng tham mưu ngụy, và sân bay Tân Sơn Nhất. Trung đoàn 6 đánh vào cư xá sĩ quan Mỹ, tại trận địa này đã có 4 chiến sỹ anh dũng ngã xuống, 12 chiến sỹ bị thương. Đó là giọt máu cuối cùng của cán bộ chiến sỹ sư đoàn 10 đổ xuống đường phố Sài Gòn góp phần cho chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng!
Năm 1976 ông được bổ nhiệm Sư trưởng Sư đoàn 10. Nhiệm vụ của Sư đoàn 10 sau giải phóng miền Nam Là: Cải tạo giáo dục ngụy quân, ngụy quyền, cảnh sát, mật vụ vừa bị tan rã đang lẩn trốn trong dân, hàng chục tổ chức phản động tìm cách móc nối phá hoại, tiếp tục thực hiện kế hoạch “hậu chiến”;
 Xây dựng hệ thống chính quyền cách mạng cơ sở, bảo vệ thành quả cách mạng; Giải quyết trợ cấp, cứu tế, việc làm cho nhân dân; Hành quân về tỉnh Quảng Đức tiêu diệt bọn phản động vũ trang xâm phạm biên giới, chiến đấu tiêu diệt bọn phản động Pulrô; xây dựng đơn vị tinh nhuệ chính qui theo phương hướng cơ bản, hệ thống, toàn diện; khai phá 1200ha đất tập trung trồng lúa, ngô, đậu, lạc,...nuôi hàng trăm trâu bò, sản xuất 2000m2 gỗ theo qui hoạch của tỉnh, sản xuất 5 triệu viên gạch;
Ngày 28 tháng 5 năm 1977, Sư đoàn bao vây, bất ngờ tấn công tiêu diệt sở chỉ huy tiền phương vùng 4 chiến thuật Pulrô.
Ngày 3 tháng 8 năm 1977, Sư đoàn tổ chức đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm...
Ngày 6 tháng 10 năm 1977, Sư đoàn hành quân về Tân Biên quét sạch quân địch đóng trái phép trên đất Việt Nam, Sư đoàn 10 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Ngày 1 tháng 1 năm 1978, Quân đoàn 3 trong đó có Sư đoàn 10 đã đập tan các bàn đạp tiến công của Pôn Pốt.
Ngày 26 tháng 3 năm 1978, Quân đoàn 3 mở đợt hoạt động mới, Sư đoàn 10 đã chiến đấu anh dũng, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Sau chiến dịch A28 ông được cử đi học ở Học viện quân sự cấp cao.
Ngày 22 tháng 9 năm 1979, ông được giao nhiệm vụ Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 14 đóng ở Lạng Sơn. Quân đoàn gồm 5 sư đoàn: 3, 33, 327, 338, 347 với 8 vạn quân bảo vệ biên giới phía Bắc tỉnh Lạng Sơn.
Ngày 4 tháng 3 năm 1980, Trường sĩ quan Hậu cần được thành lập, ông được bổ nhiệm Hiệu trưởng đầu tiên Trường sĩ quan Hậu cần. Ông đã cùng tập thể lãnh đạo xây dựng trường từ con số không đến có, Trường đã từng bước trưởng thành vững mạnh.
Năm 1990, ông được Bộ Quốc phòng cho nghỉ hưu theo qui định.
- Khen thưởng:
+ Huân chương Độc lập hạng Nhì.
+ Huân chương Quân công hạng Nhất.
+ 5 huân chương Chiến công các loại và nhiều phần thưởng cao quí khác.
+ Nhà nước Campuchia tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì.
 
Thiếu tướng Phùng Thế Quảng
 
Sinh ngày 1/8/1953.
Quê quán: xã Văn Nhân, huyện Phú Xuyên, Tp. Hà Nội.
Chức vụ: Thiếu tướng (31/12/2007), Cục trưởng Cục Kinh tế, Phó Giám đốc Viện Khoa học công nghệ Quân sự Bộ Quốc phòng, Phó Tư lệnh Quân khu 7.
 
Thiếu tướng Phùng Đình Thảo
Sinh ngày 3/8/1954.
Quê quán: thôn Bác Kim, xã Phú Kim, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Trú quán: Số nhà 26, phố Tản Đà, phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
Tham gia hoạt động cách mạng năm 1972.
Nhập ngũ ngày 2-1-1972. Trưởng thành từ binh Nhì, chiến sĩ đến Chủ nhiệm Chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Hà Tây, Quân khu Thủ Đô; Phó Sư đoàn trưởng về Chính trị Sư đoàn 301, Quân khu Thủ đô; Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Thủ đô;Chính ủy Bộ Tư lệnh Thủ đô; Phó Cục trưởng Cục Tổ chức cán bộ - Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.
 
Thiếu tướng Phùng Căn
Sinh ngày 25/4/1931
Quê quán: Xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, Hà Nội
Trình độ: Phó Giáo sư, năm 1957 học tại Trường Quân sự Prunze Liên Xô, cao cấp lý luận.
Vào Đảng ngày 5/11/1949, làm liên lạc đại đội bảo vệ Phủ Chủ tịch.
Thụ phong Thiếu tướng năm 1994. Ngày 24 tháng 2 năm 1995, Giám đốc Học viện Quốc phòng ra quyết định bổ nhiệm Quyền Trưởng khoa chiến thuật Học viện Quốc phòng.
 
Thiếu tướng Phùng Truyền
-Sinh ngày 3/8/1944.
-Quê quán: xã Chí Đám, Huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
-Chức vụ: Thiếu tướng, Phó tư lệnh Chính trị Binh chủng Đặc công.
 
Thiếu tướng Phùng Văn Thiết
Sinh ngày 5/5/1958.
Quê quán: Xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Chức vụ: Thiếu tướng, Phó hiệu trưởng Trường Sỹ quan Chính trị QĐND Việt Nam.
 
Thiếu tướng Phùng Ngọc Sơn
Sinh ngày 22/6/1968.
Quê quán: Phường Lê Lợi, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
Chức vụ. Thiếu tướng, Tư lệnh Binh chủng Công binh.
 
Thiếu tướng Phùng Quốc Tuấn
Sinh năm 1964.
Quê quán: Xã Mỹ Phương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Dân tộc Tày.
Chức vụ: Chính ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng; Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng Việt Nam. Tháng 7 năm 2017: Thiếu tướng, Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng Việt Nam.
 
Thiếu tướng Phùng Tiến Bộ
Sinh ngày 28/8/1953.
Quê quán: Xã Yên Thạch, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chức vụ: Ủy viên Ban thường vụ, Giám đốc Công an tỉnh Vĩnh Phúc.
Thụ phong Thiếu tướng công an năm 2011.
 
Thiếu tướng Phùng Thị Phú
Sinh năm 1972
Quê quán: xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội
Chức vụ: Cục Phó Cục Quân huấn Bộ Tổng tham mưu QĐND Việt Nam
 

  1. CỤC, VỤ, VIỆN TRƯỞNG

 
Phùng Duy Phiên
Năm sinh: Tháng 2 năm 1915. Quê quán: Hạ Từ (Bùi Xá, Đức Thọ), Hà Tĩnh. (Ông Phiên là con trai của cụ Phùng Duy Cần làm Tham tri triều Nguyễn: Piueur bộ Công tại Huế năm 1910, Thừa Phái năm 1912, Tư - Vụ năm 1917, Viên Ngoại năm 1924, Tri phủ tỉnh Kontum năm 1926, Quản đạo Kontum năm 1928, Án Sát tỉnh Bình Thuận năm 1930, Tả Bộ Công năm 1933, Thị Lang 1933, Quản đạo Gialai và Thị lang năm 1934, Bộ Tư pháp 1939, Tri - Thám Bộ Nội Vụ 1939, Bộ Nghi lễ và bộ Công 1942; ông là anh trai Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học - Nghệ thuật châu Âu Phùng Thị Cúc tức Điềm Phùng Thị).
 Là một nhà quân sự có tài, ông tốt nghiệp Trường võ bị Thủ Dầu Một thời Pháp thuộc (học cùng một lớp với Đại tướng Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh). Năm 1980 ông nghỉ hưu theo qui định tại Huế, ông mất ngày 30 tháng 6 năm 2017 (26 - 6 âm lịch), hưởng thọ 103 tuổi.
 - Khen thưởng:
+ Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.
+ Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.
+ Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.
 
Phùng Văn Hiến
-Sinh ngày 15/6/1934.
-Quê quán: xã Châu Nguyên, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
-Chức vụ: Tham gia cách mạng năm 1952, vào bộ đội thuộc Sư đoàn 312, từng chiến đấu tại các chiến trường: Điện Biên Phủ, Quảng Trị, chiến trường Nam Lào, chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, Quân hàm Trung tá. 1978 công tác tại Ban Bảo vệ Chính trị nội bộ Trung ương, Vụ trưởng vụ Hồ sơ, Chánh văn phòng Ban Bảo vệ nội bộ chính trị Trung ương.
 
Phùng Viết Điều
- Sinh ngày 8/10/1948.
-Quê quán: xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
-Chức vụ:
+ Vụ trưởng Vụ Địa phương Văn phòng Trung ương.
+ Chánh văn phòng Ban Cán sự Đảng Chính phủ.
 
Phùng Thảo
-Sinh ngày 20- 4 - 1949.
-Quê quán: xã Thái Sơn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Chức vụ: Giám đốc, Tổng biên tập Đài Phát thanh - Truyền hình Hải Phòng; Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng, kiêm Tổng biên tập Tạp chí Sinh hoạt chi bộ; Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam - Liên Bang Nga Thành phố Hải Phòng; Chánh Văn phòng Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương; Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy cơ quan Ban Tuyên giáo Trung ương, Chánh văn phòng Ban Truyên giáo Trung ương, Hội viên Hội nhà báo Việt Nam.
 
Phùng Khắc Bình
-Sinh ngày 4/1/1950
-Nhập ngũ QĐND Việt Nam năm 1972-1975, đơn vị: D1, E202, Quân đoàn I
- Chức vụ:
+ Phó vụ trưởng Vụ Công tác Chính trị và học sinh, sinh viên.
+ Vụ trưởng Vụ Công tác học sinh, sinh viên Bộ Giáo dục năm 1999.
 
Phùng Mạnh Cung
- Chức vụ:
- Vụ trưởng Vụ Lễ tân Bộ ngoại giao; Đại sứ Việt Nam tại Mông Cổ.
 
Phùng Văn Nghệ
-Quê quán: Hà Tây cũ.
-Chức vụ: Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn.
 
Phùng Văn Hiền (Thanh Sơn)
-Quê quán: xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
-Chức vụ: Giám đốc Sở Thủy lợi Hà Nội, Chủ tịch Trọng tài kinh tế Hà Nội, Tổng Biên tập Báo Người Cao tuổi.
 
Phùng Văn Ổn
-Sinh ngày 12/3/1955
-Quê quán: phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
-Chức vụ: Phó trưởng Khoa Đại học Hàng Hải Việt Nam; Giám đốc Trung tâm Công nghệ Thông tin - Bộ Giao thông Vận tải; Giám đốc Trung tâm Tin học Văn phòng Chính phủ.
 
Phùng Anh Tuấn
-Sinh ngày 4/7/1958.
-Quê quán: xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
-Chức vụ: Phó chánh Văn phòng; Vụ trưởng Vụ Đảng viên, Vụ Trưởng Vụ Cán bộ các bộ, ban, ngành Trung ương (Vụ 4) thuộc Ban Tổ chức Trung ương Đảng.
 
Phùng Văn Hùng
-Sinh ngày 6/4/1960.
-Dân tộc: Kinh.
-Quê quán: xã Thái Sơn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Chức vụ: Giám đốc Trung tâm Thông tin Thư viện và Nghiên cứu khoa học - Văn phòng Quốc hội; Đại biểu Quốc hội khóa XIII, XIV, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ cơ quan Văn phòng Quốc hội, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Phó chủ tịch nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam - Italia.
 
Phùng Hồ Hải
-Sinh ngày 3 - 1 - 1970.
-Quê quán: Xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
-Chức vụ: Viện trưởng Viện Toán học Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
 
 
Phùng Thiên Tân
- Sinh ngày 20/5/1954.
- Quê quán: Làng Bố, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa.
-Chức vụ: Năm 2001: Đại tá Công an, Phó giám đốc Nhà xuất bản Công an nhân dân, phụ trách các tỉnh phía Nam. Năm 2009: Giám đốc Nhà Xuất bản Công an nhân dân Bộ Công an.
 
Phùng Hà
- Quê quán: Hoành Nhị, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Chức vụ: Cục trưởng cục Hóa chất - Bộ Công Thương.
 
Phùng Kim Anh
-Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng Bưu chính - Viễn thông và Công nghệ thông tin và Truyền thông Bộ Bưu chính viễn thông.
 
Phùng Thế Long
Quê quán: Xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
Chức vụ:
 - Quyền Chánh văn phòng Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài.
 - Đại sứ Việt Nam tại Ca-Ta.
 
Phùng Vinh
- Quê quán: Thị trấn Ngô Đồng, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Chức vụ: Đại tá Quân đội, Vụ trưởng Ban chỉ đạo Tây Nguyên.
 
Phùng Đăng Bách
- Chức vụ: Giám đốc Trung tâm Dữ kiện - Tư liệu Thông tấn xã Việt Nam.
 
Phùng Mạnh Đắc
- Quê quán: Xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
-Chức vụ: Viện trưởng Viện Khoa học Mỏ, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam.
 
Còn nhiều người giữ cương vị là cục, vụ, viện trưởng và Phó cục, vụ, viện trưởng trong bài viết này chưa có điều kiện biên tập, kính mong quý vị bạn đọc thông cảm!