(Thứ sáu, 27/02/2026, 02:47 GMT+7)

Tiến sĩ sử học Đinh Công Vỹ là một người dành rất nhiều thời gian, tâm huyết, trí tuệ và sự đam mê với các Danh nhân văn hóa lịch sử họ Phùng Việt Nam tiêu biểu như Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng; Thái Phó lưỡng triều Lý - Trần Phùng Tá Chu; Hữu tướng quân Phùng Thanh Hòa thời Tiền Lý và đặc biệt là Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Tiến sĩ Đinh Công Vỹ với kiến văn sâu rộng và tấm lòng kính ngưỡng tiền nhân đã cho ông phong thái đĩnh đạc, cách thể hiện đường hoàng trong các tham luận về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của các Danh nhân văn hóa lịch sử họ Phùng. Khi thực hiện bộ sách Phùng Khắc Khoan - Hợp tuyển thơ văn, Tiến sĩ Đinh Công Vỹ đã đóng góp rất nhiều công sức, trực tiếp biên soạn và dịch một số bài thơ. Tiến tới kỷ niệm 500 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa lịch sử Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Ban Biên soạn trang web họ Phùng Việt Nam trân trọng giới thiệu chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Tiến sĩ Đinh Công Vỹ dịch.

  

Tiến sĩ Đinh Công Vỹ (sơ mi hồng) và nhà văn Phùng Văn Khai

 
 
 

 
 


 


便





 
Phiên âm:
 
NGUYÊN ĐÁN
(Thời Giáp Dần chi nhị thập thất tuế dã.
Thị tuế lục nguyệt thập nhật, phụ thân quyên quán)
 
Đại đông chi hậu hỷ dương sinh,
Thức mục trùng quan thế đạo hanh.
Cảnh vật tiện tòng kim nhật hảo,
Giang sơn thiên thắng tích niên thanh.
Dương thăng vưu thiết quỳ tâm hướng,
Tiết đáo liêu bằng bách tửu nghênh.
Triệu thủy hân phùng thiên đại thái,
Thời lai hiển ngã đại công danh.
 
Dịch nghĩa:
 
MỒNG MỘT TẾT
(Bấy giờ là năm Giáp Dần [1554], tôi 27 tuổi.
Mồng 10 tháng 6 năm ấy, phụ thân tôi mất)([1])
 
Sau mùa đông giá rét, mừng mùa xuân ấm áp sinh sôi nảy nở,
Lau mắt nhìn lại xem thế đạo thịnh vượng.
Cảnh vật tự hôm nay tươi tốt thật,
Non sông so với năm ngoái trong trẻo hơn.
Mặt trời lên, lòng thiết tha tựa bông hoa quỳ hướng tới ánh dương([2]).
Ngày tết đến, tạm mượn chén rượu bách đón chào.
Mở đầu năm mới, vui mừng gặp vận thái của trời đất,
Thời vận đã đến, chính là lúc tỏ rõ công danh to lớn của ta.
 
Dịch thơ:
 
NGUYÊN ĐÁN
 
Sau đông giá rét ấm dương sinh
Lau mắt nhìn xem thế đạo hanh
Cảnh vật từ nay đầy sắc thắm
Non sông hơn trước đượm mầu xanh
Trời lên quỳ đón hoa lòng hướng
Tết đến chén mừng rượu Bách nghênh
Năm mới vui chào trời đất thái
Gặp thời ta rõ đại công danh.
 
                          Đinh Công Vỹ dịch
 
 
 

 








 
Phiên âm:
 
HÀNH NIÊN TỰ THUẬT
 
Hành canh tứ thất diệu linh nam,
Đức hạnh văn chương lưỡng vị kham.
Thế vị biến đa lưu bạc nghĩa,
Học nhân kiến độc cục thường đàm.
Quai sơ hạnh hữu nhân do thức,
Tháo thứ vô vong đạo dữ tham.
Xuân đáo trập long tiềm diệc phấn,
Tranh vanh đầu giác tủng thiên Nam.
 
Dịch nghĩa:
 
TỰ THUẬT VIỆC TRONG NĂM
 
Năm nay ta hai mươi tám tuổi, một chàng trai trẻ,
Đức hạnh, văn chương hai điều đều chưa có.
Đời vì biến cố quá nhiều thành ra bạc nghĩa,
Vì kiến thức học được hạn hẹp nên vụng về ngay cả khi nói chuyện bình thường.
Ta tài hèn may mà còn có người biết đến,
Lúc vội vã khó khăn không quên khi cùng đạo.
Xuân về, rồng náu hình, trước ẩn tàng nay liền phấn khởi,
Đầu sừng đã nghênh ngang([3]) đĩnh đạc ở góc trời Nam.
 
Dịch thơ:
 
TỰ THUẬT VIỆC HÀNG NĂM
 
Nay ta hai tám sức tài nam
Đức hạnh văn chương chửa đủ làm
Đời bởi biến nhiều thành bạc nghĩa
Học do biết hẹp phải ngu đàm.
Trí hèn may vẫn người còn hiểu
Thời khó chửa quên thưở đạo ham
Xuân đến rồng chìm bừng tỉnh giấc
Đầu sừng lấp lánh sáng trời nam.
 
                      Đinh Công Vỹ dịch
 
 
 


,
 
















 
Phiên âm:
 
THƯỞNG XUÂN TỪ TÍNH DẪN
Thời đồng đạo lưỡng tam nhân đáo sách cú, nhân hý tác.
 
Tư đương cửu thập nhật thiều hoa, hảo cá huyên hòa chi hậu. Tái nhất phiên khoái sự, liêu vi thắng thưởng chi hoan. Hội thích phùng gia, hứng lai kham ngoạn. Khả nhân duy hữu tửu, hỷ kiêm tứ mĩ nhị nan. Hành lạc tu cập xuân, hà tích thiên kim nhất túy, dục vĩ chân suất, hội tái xướng Tấm viên xuân. Từ viết:
 
Thiên thượng dương hồi,
Nhân gian xuân chí,
Hựu nhất phiên tân.
Cái khai thái kiền khôn, thiều quang úc úc,
Hướng dương hoa thảo, sinh ý hân hân.
Hồng thấn đào tai, thanh khuy liễu nhãn,
Oanh hoàng điệp phách lộng tân phân.
Nhị tam tử, ngộ đáo lai thời tiết,
Phong quang khả cảnh khả nhân.
Giá ban mỹ cảnh lương thần,
Dục hành lạc, tu cập thử thanh xuân.
Liêu vấn liễu vấn hoa, hương huề hồng tụ,
Nhất trường nhất vịnh, ca át bạch vân.
Tiến sỹ đả cầu, thị thần bồi yến,
Cổ lai lạc sự thượng truyền văn.
Kim tao phùng Thánh Thiên tử, hạnh đắc trí thân.
 
Dịch nghĩa:
 
BÀI TỪ THƯỞNG XUÂN VÀ LỜI DẪN
Lúc bấy giờ có hai ba người cùng đạo đến đòi thơ, nên ta đùa làm bài từ này.
Nay đương lúc mùa xuân, khí hậu thật là đầm ấm; lại có một phen vui vẻ, thật đáng thưởng xuân đẹp. Gặp buổi tiết hay, gợi hứng, ta nên du ngoạn. Thích cho người ta chỉ có rượu thôi, mừng có đủ tứ mỹnhị nan([4]). Hành lạc nên kịp xuân, tiếc gì ngàn vàng để mua cuộc say túy lúy. Muốn cho đẹp tấm lòng chân thành, bộc trực, phải hát điệu Tấm viên xuân([5]).Có bài từ rằng:
 
Khí dương từ trời về,
Mùa xuân nhân gian tới,
Lại một phen đổi mới,
Quả là trời đất mở mang thái vận, ngày xuân tốt tươi,
Hoa cỏ hướng mặt trời, sinh ý hớn hở,
Da đào phô sắc đỏ, mắt liễu hé màu xanh.
 
Oanh hót véo von, bướm bay chập chờn tỏ vẻ vui mừng,
Vài ba bạn gặp thời tiết đến.
Phong quang đẹp cảnh vui cho người,
Cảnh đẹp này, thời tiết đẹp ấy.
Muốn hành lạc ta nên theo kịp tiết thanh xuân này.
Hãy hỏi liễu hỏi hoa để hương thơm đầy tay áo hồng.
Uống chén rượu, vịnh câu thơ, ca hát át đến tận làn mây trắng,
Tiến sỹ đánh cầu, cận thần hầu yến.
Việc vui xưa nay hãy còn truyện nghe,
Nay gặp bậc Thánh Thiên tử, thật may mắn được tiến thân.
 
Dịch thơ:
 
BÀI TỪ THƯỞNG XUÂN
 
Từ trời dương khí đã về
Nhân gian xuân tới mọi bề thắm lên
Nước non lại mới một phen
Đất trời khai thái thần tiên nắng vàng
Hướng dương hoa cỏ huy hoàng
Ý sinh hớn hở ngập tràn khắp nơi
Da đào sắc đỏ tuyệt vời
Màu xanh mắt liễu hé ngời ngời tươi
Bướm bay oanh hót vui đời
Có vài ba bạn gặp thời tiết say
Phong quang đẹp cảnh vui đầy
Muốn hành lạc phải theo bầy tiết xuân
Hỏi hoa hỏi liễu mấy lần
Để áo hồng thắm tay dần ngát hương
Rượu thơ nân chén vấn vương
Lời ca át tận thiên đường trắng mây
Đánh cầu tiến sỹ ngất ngây
Cận thần hầu yến xưa nay truyện bàn
Giờ đây gặp bậc thánh quân
Ta may mắn lắm tiến thân dâng ngài.
 
                         Đinh Công Vỹ dịch

 
 
Cuốn sách "Phùng Khắc Khoan - Hợp tuyển thơ văn"

 
     



 








 
Phiên âm:
 
THƯ ĐƯỜNG BÁT CẢNH
KỲ NHẤT
 
THẮNG ĐỊA KẾT LƯ
(Thời tại Chân Bái xã)
 
Ư nhân cảnh ngoại quýnh phàm trần,
Địa thắng lư thanh biệt hữu xuân.
Ta thủy ta sơn song hảo cảnh,
phiến vân phiến nguyệt tứ giai lân.
Tĩnh an lự đắc cầu tri trí,
Động biến minh thành khế đạo chân.
Vị đáo kinh luân thời tiết xứ,
Thả tu khang tế tự gia thân.
 
Dịch nghĩa:
 
TÁM CẢNH Ở NHÀ HỌC
BÀI MỘT
 
LÀM NHÀ HỌC Ở NƠI CẢNH ĐẸP
(Bấy giờ tôi ở xã Chân Bái([6]))
 
Đây là nơi xa bụi bặm, như ở ngoài trần thế,
Đất đẹp, nhà thanh, có riêng cõi xuân.
Non ấy, nước ấy, cả hai cảnh đều hay,
Vầng trăng, làn mây, bốn bề đều đẹp.
Tĩnh, an, lự, đắc cầu cho được trí tri([7]),
Động, biến, minh, thành hợp được với chân đạo([8]).
Chưa đến được lúc ra tay sắp đặt thiên hạ,
Ta hãy làm lành mạnh trong sạch chính cái thân ta.
 
Dịch thơ:
 
THƯ ĐƯỜNG TÁM CẢNH
BÀI MỘT
 
LÀM NHÀ HỌC NƠI CẢNH ĐẸP
(Xã Chân Bái)
 
Nơi đây ngoài bụi khác phàm trần
Đất đẹp lều thanh biệt cõi xuân
Ôi nước ôi non đôi cảnh đẹp
Mảnh mây mảnh nguyệt bốn bề ngân
“Tĩnh an” nghĩ được cầu biết đến
“Động biến” sáng thành hợp đạo chân
Chưa được kinh luân thời sắp đặt
Hãy làm lành mạnh tự riêng thân.
 
                      Đinh Công Vỹ dịch
 
 
 


 








 
Phiên âm:
 
KỲ NHỊ
LẠC THIÊN ĐÀM ĐẠO
 
Kết lư nhân cảnh tịch vô huyên,
Đàm đạo hiêu nhiên tự lạc thiên.
Lý thượng Trung dung cầu tính hữu,
Đồ gian Thái cực cứu tâm truyền.
Quan Thi ý ngụ dĩ san hậu,
Độc Dịch tâm tham vị hoạch tiền.
Tiên Thánh tòng hà năng cứu cánh,
Chí thành ưng khả sát ngư diên.
 
Dịch nghĩa:
 
BÀI HAI
VUI THEO MỆNH TRỜI, BÀN VỀ ĐẠO
 
Làm nhà giữa cõi trần vẫn tịch mịch không huyên náo([9]),
Vui vẻ tự nhiên đàm luận đạo lý, tự vui theo mệnh trời.
Truy cầu bản tính sẵn có, lý chuộng Trung dung([10]),
Suy cứu cái tâm truyền, tìm xem nơi Thái cực đồ.
Xem Kinh Thi(3) thì ý nên để ở những chỗ đã qua tay Khổng Tử san định,
Đọc Kinh Dịch (4) tâm nên suy đến Dịch trước khi Phục Hy chia vạch quẻ ra.
Tiên Thánh trước kia do đâu mà biết được đến cùng,
Cá nhảy diều bay, lòng chí thành có thể suy xét được(5).
 
Dịch thơ:
 
VUI THEO MỆNH TRỜI, BÀN VỀ ĐẠO
 
Giữa trần lều dựng chẳng náo huyên
Đàm đạo tự vui đúng mệnh thiên
Chuộng lẽ “Trung dung” cầu tính có
Tìm nơi “Thái cực” xét tâm truyền
Xen thi ý ngụ sau san định
Đọc dịch lòng tìm trước vạch biên.
Tiên thánh do đâu được cứu cánh
Diều bay cá nhảy cảm thành nên.
 
        Đinh Công Vỹ dịch
 


 








 
Phiên âm:
 
KỲ TAM
THANH PHONG NHẬP HỘ
 
Đàm đạo hiên trung thú vị trường,
Thanh phong nhập hộ hảo thừa lương.
Trúc âm xuy động đình giai tĩnh,
Hoa khí nùng huân kỷ án hương.
Chu tử hung ngu Khổng, Mạnh,
Trình công tọa thượng ấp Du, Dương.
Thời lai hảo bả nhân phong xuất,
Quân thử thanh âm cập tứ phương.
 
Dịch nghĩa:
 
BÀI BA
GIÓ MÁT VÀO CỬA
 
Ở trong hiên đàm đạo, thú vị rất nhiều,
Gió trong lành vào cửa, hóng mát rất tốt.
Gió thổi lay bóng trúc, sân thềm yên tĩnh,
Hương hoa bay thổi làm thơm cả kỷ án.
Lòng Chu Đôn Di([11]) luôn vui với đạo Khổng, Mạnh,
Nơi Trình Di([12]) ngồi, có học trò là Du, Dương([13]) đứng hầu.
Thời đến ta sẽ thổi gió nhân tốt lành này ra,
Để chia đều mát trong cho khắp bốn phương.
 
Dịch thơ:
 
GIÓ MÁT VÀO CỬA
 
Đàm đạo trong hiên thú vị trường
Hơi lạnh vào cửa mát còn vương
Trúc lay gió động thềm đình tĩnh
Hoa thoảng cây nồng kỷ án hương
Chu Tử đầy lòng vui Khổng - Mạnh
Trình Di ngồi giảng thích Du - Dương
Thời về tốt lắm nhân phong hiện
Gió mát đều chia khắp bốn phương.
 
                       Đinh Công Vỹ dịch
 
 
 


 

滿

穿




 
Phiên âm:
 
KỲ TỨ
MINH NGUYỆT CHIẾU ĐÌNH
 
Nhập môn tế tế dẫn phong khinh,
Huống mãn hiên đình nguyệt hựu minh.
Quang xạ mai song vi hữu ảnh,
Tà xuyên trúc kính tịch vô thanh.
Đáo thiên tâm thấu trung hòa diệu,
Hướng địa đầu suy đạo lý tinh.
Liệu đắc thiểu nhân tri ý vị,
Phương trai vô dị ngọc đường thanh.
 
Dịch nghĩa:
 
BÀI BỐN
TRĂNG SÁNG CHIẾU XUỐNG SÂN
 
Êm dịu nhẹ nhàng, gió lùa vào cửa,
Huống chi lại được trăng sáng soi đầy sân, đầy hiên.
Ánh trăng sáng chiếu thẳng cửa sổ cây mai in bóng nhỏ,
Ánh trăng chiếu xuyên đường tắt khóm trúc lặng im không tiếng.
Mặt trăng lên giữa trời, tỏ rõ sự màu nhiệm của đạo trung, hòa([14]),
Mặt trăng lên khỏi mặt đất, như diễn đạo lý tinh vi([15]).
Chắc hẳn ít người biết được ý vị hay vô cùng ấy([16]),
Nơi nhà tranh này chẳng khác gì chỗ nhà ngọc thanh cao.
 
Dịch thơ:
 
TRĂNG SÁNG CHIẾU SÂN
 
Cửa vào man mát dẫn hơi lành
Huống ngập hiên đình nguyệt tỏ minh
Ánh bắn song mai hình nhỏ hiện
Bóng xuyên lối trúc tắt không thanh
Đến trời lòng thấu trung hoà nhiệm
Hướng đất đầu suy đạo lý tinh
Liệu được ít người hay ý vị
Nhà này không khác ngọc đường xanh.
 
                          Đinh Công Vỹ dịch


([1])Nói phụ thân mất, song nội dung không thấy bày tỏ cái ý đau buồn. Đây là câu chú dẫn thêm vào khi biên tập nhớ lại.
([2])Hoa quỳ: loài hoa nở chầu hướng về phía mặt trời. Ở đây ví với tâm ý của tác giả đang đau đáu hướng về vua Lê.
([3])Đầu sừng đã nghênh ngang: chỉ cảnh gặp thời đắc dụng.
([4])Tứ mỹ: bốn việc tốt đẹp: tốt trời, cảnh đẹp, tâm thần sung sướng và việc vui mừng. Nhị nan: hai điều khó mà có được: chủ hiền và khách tốt gặp nhau.
([5])Tấm viên xuân: tên một điệu từ khúc.
([6])Chân Bái: tên xã, thuộc Thiệu Hóa, Thanh Hóa.
([7])Sách Đại học có viết: “Tri chỉ nhi hậu hữu định, định nhi hậu năng tĩnh, tĩnh nhi hậu năng an, an nhi hậu năng lự, lự nhi hậu năng đắc”, nghĩa là: Biết được chỗ dừng (đích đến) thì sau (chí) mới định, (chí) định thì sau (tâm) mới tĩnh, (tâm) tĩnh thì sau (thân) mới an, (thân) an thì sau mới có thể suy xét xử sự tinh tường, suy xét xử sự tinh tường thì sau mới đạt được đến đích (dừng lại chỗ chí thiện). Sách Đại học lại viết: “Vật cách nhi hậu tri chí, tri chí nhi hậu ý thành...”, nghĩa là: Sự việc được suy xét thấu đáo thì sau cái biết mới đến tột cùng, cái biết đến tột cùng thì sau ý mới thành...).
([8])Sách Trung dung có viết: “Tự thành minh vị chi tính, tự minh thành vị chi giáo”, nghĩa là: Từ thành mà đến minh (minh thiện) ấy gọi là tính (thiên tính), từ minh (minh thiện) mà đến thành ấy gọi là giáo (nhờ vào giáo hóa). Lại viết: “Thành tắc hình, hình tắc trứ, trứ tắc minh, minh tắc động, động tắc biến, biến tắc hóa, duy thiên hạ chí thành vi năng hóa” (Thành thì sẽ thể hiện ra, thể hiện ra thì sẽ tỏ rõ, tỏ rõ thì sẽ sáng rỡ, sáng rỡ thì có thể cảm động được vật, vật cảm động thì sẽ biến đổi, biến đổi thì sẽ hóa theo. Chỉ có bậc chí thành trong thiên hạ là có thể hóa được).
([9])Thơ Đào Tiềm: “Kết lư tại nhân cảnh, nhi vô xa mã huyên” (Ẩm tửu - Bài 5): làm nhà giữa chốn đông người, thế mà không thấy tiếng ồn ào của ngựa xe.
([10])-(3)-(4)Trung Dung,Kinh Dịch đều là những tác phẩm kinh điển của Nho gia.
(5)Sách Trung Dung có câu: “Diên phi lệ thiên, ngư dược vu uyên, ngôn kỳ thượng hạ sát dã”. (hai câu in nghiêng dẫn trong Kinh Thi, nghĩa là: diều bay sát trời, cá nhảy dưới vực, ý nói đạo thể hiện rõ rệt khắp từ trên xuống dưới). Đây nói bậc chí thành qua “diều bay cá nhảy” có thể suy xét được Thể và Dụng của Đạo.
([11])Chu Đôn Di: danh nho đời Tống, một trong những người được coi là kế tiếp đạo Khổng - Mạnh.
([12])Trình Di: cũng là một danh nho đời Tống, em của Trình Hạo, tư tưởng của ông có nhiều điểm đặc sắc, đào tạo được nhiều học trò giỏi.
([13])Du, Dương: tức Du Tạc và Dương Thời, danh nho đời Tống, học trò của Trình Tử.
([14])Đạo trung, hòa: trung và hòa là hai phạm trù quan trọng của cái học tâm tính Nho gia. Trung là trạng thái nguyên sơ toàn vẹn của tính con người, hòa là trạng thái tình phát tiết đúng cách trúng đạo hợp lễ. Hai phạm trù này được luận giải kỹ trong sách Trung Dung của Nho gia.
([15])Đạo lý tinh: nghĩa là sự tinh nhất thuần túy của đạo lý. Người ta cũng dùng cách nói này để gọi mặt trăng lúc tròn đầy trong sáng.
([16])Câu 5 và câu 7 lấy ý từ bài thơ Thanh dạ ngâm của Thiệu Ung đời Tống: “Nguyệt đáo thiên tâm xứ, phong lai thủy diện thì, nhất ban thanh ý vị, liệu đắc thiểu nhân tri” (Khi trăng lên giữa trời, lúc gió thổi mặt nước, ý vị hay vô cùng ấy, chắc hẳn ít người biết).

 

 


([1])Nói phụ thân mất, song nội dung không thấy bày tỏ cái ý đau buồn. Đây là câu chú dẫn thêm vào khi biên tập nhớ lại.
([2])Hoa quỳ: loài hoa nở chầu hướng về phía mặt trời. Ở đây ví với tâm ý của tác giả đang đau đáu hướng về vua Lê.
([3])Đầu sừng đã nghênh ngang: chỉ cảnh gặp thời đắc dụng.
([4])Tứ mỹ: bốn việc tốt đẹp: tốt trời, cảnh đẹp, tâm thần sung sướng và việc vui mừng. Nhị nan: hai điều khó mà có được: chủ hiền và khách tốt gặp nhau.
([5])Tấm viên xuân: tên một điệu từ khúc.
([6])Chân Bái: tên xã, thuộc Thiệu Hóa, Thanh Hóa.
([7])Sách Đại học có viết: “Tri chỉ nhi hậu hữu định, định nhi hậu năng tĩnh, tĩnh nhi hậu năng an, an nhi hậu năng lự, lự nhi hậu năng đắc”, nghĩa là: Biết được chỗ dừng (đích đến) thì sau (chí) mới định, (chí) định thì sau (tâm) mới tĩnh, (tâm) tĩnh thì sau (thân) mới an, (thân) an thì sau mới có thể suy xét xử sự tinh tường, suy xét xử sự tinh tường thì sau mới đạt được đến đích (dừng lại chỗ chí thiện). Sách Đại học lại viết: “Vật cách nhi hậu tri chí, tri chí nhi hậu ý thành...”, nghĩa là: Sự việc được suy xét thấu đáo thì sau cái biết mới đến tột cùng, cái biết đến tột cùng thì sau ý mới thành...).
([8])Sách Trung dung có viết: “Tự thành minh vị chi tính, tự minh thành vị chi giáo”, nghĩa là: Từ thành mà đến minh (minh thiện) ấy gọi là tính (thiên tính), từ minh (minh thiện) mà đến thành ấy gọi là giáo (nhờ vào giáo hóa). Lại viết: “Thành tắc hình, hình tắc trứ, trứ tắc minh, minh tắc động, động tắc biến, biến tắc hóa, duy thiên hạ chí thành vi năng hóa” (Thành thì sẽ thể hiện ra, thể hiện ra thì sẽ tỏ rõ, tỏ rõ thì sẽ sáng rỡ, sáng rỡ thì có thể cảm động được vật, vật cảm động thì sẽ biến đổi, biến đổi thì sẽ hóa theo. Chỉ có bậc chí thành trong thiên hạ là có thể hóa được).
([9])Thơ Đào Tiềm: “Kết lư tại nhân cảnh, nhi vô xa mã huyên” (Ẩm tửu - Bài 5): làm nhà giữa chốn đông người, thế mà không thấy tiếng ồn ào của ngựa xe.
([10])-(3)-(4)Trung Dung,Kinh Dịch đều là những tác phẩm kinh điển của Nho gia.
(5)Sách Trung Dung có câu: “Diên phi lệ thiên, ngư dược vu uyên, ngôn kỳ thượng hạ sát dã”. (hai câu in nghiêng dẫn trong Kinh Thi, nghĩa là: diều bay sát trời, cá nhảy dưới vực, ý nói đạo thể hiện rõ rệt khắp từ trên xuống dưới). Đây nói bậc chí thành qua “diều bay cá nhảy” có thể suy xét được Thể và Dụng của Đạo.
([11])Chu Đôn Di: danh nho đời Tống, một trong những người được coi là kế tiếp đạo Khổng - Mạnh.
([12])Trình Di: cũng là một danh nho đời Tống, em của Trình Hạo, tư tưởng của ông có nhiều điểm đặc sắc, đào tạo được nhiều học trò giỏi.
([13])Du, Dương: tức Du Tạc và Dương Thời, danh nho đời Tống, học trò của Trình Tử.
([14])Đạo trung, hòa: trung và hòa là hai phạm trù quan trọng của cái học tâm tính Nho gia. Trung là trạng thái nguyên sơ toàn vẹn của tính con người, hòa là trạng thái tình phát tiết đúng cách trúng đạo hợp lễ. Hai phạm trù này được luận giải kỹ trong sách Trung Dung của Nho gia.
([15])Đạo lý tinh: nghĩa là sự tinh nhất thuần túy của đạo lý. Người ta cũng dùng cách nói này để gọi mặt trăng lúc tròn đầy trong sáng.
([16])Câu 5 và câu 7 lấy ý từ bài thơ Thanh dạ ngâm của Thiệu Ung đời Tống: “Nguyệt đáo thiên tâm xứ, phong lai thủy diện thì, nhất ban thanh ý vị, liệu đắc thiểu nhân tri” (Khi trăng lên giữa trời, lúc gió thổi mặt nước, ý vị hay vô cùng ấy, chắc hẳn ít người biết).