(Thứ sáu, 27/02/2026, 02:58 GMT+7)


 

PGS.TS Trần Lê Sáng là một trong những cây đại thụ chuyên ngành khoa học xã hội nhân văn mà tiêu biểu là những bài nghiên cứu của ông về Danh nhân văn hóa lịch sử - Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Ông cùng với các vị Giáo sư Trần Quốc Vượng; Bùi Duy Tân; Nguyễn Minh Tường; Phượng Vũ… đã vận động và tổ chức các Hội thảo khoa học, công trình nghiên cứu về Phùng Khắc Khoan rất công phu, tâm huyết cách đây đã hàng chục năm. Tiến tới kỷ niệm 500 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa lịch sử Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Ban Biên soạn trang web họ Phùng Việt Nam trân trọng giới thiệu chùm thơ Phùng Khắc Khoan do PGS.TS Trần Lê Sáng dịch.

 
 
Cuốn sách "Phùng Khắc Khoan - Hợp tuyển thơ văn"










 
Phiên âm:
KỲ NHỊ
Thế sự nhàn khan tự úng kê,
An bài phú quý nhậm thiên nghê.
Bất hiềm bạch ốc nan vi dưỡng,
Duy hỷ thanh vân thượng hữu thê.
Tùng bách khởi kham hàng tuyết đống,
Kình nghê na khẳng luyến sầm đề.
Nam minh tằng kiến côn bằng phấn,
Vũ dực siêu thăng dữ Hán tề.
 
Dịch nghĩa:
BÀI HAI
Việc đời xem thường như bọ giấm trong lọ([1]),
An bài phú quý mặc kệ phận định trời sinh([2]).
Chẳng quản gì nhà tranh cảnh nghèo khó sống,
Riêng mừng đường mây nhẹ bước còn có thang lên([3]).
Cây tùng cây bách đâu chịu hàng phục trước tuyết giá([4]),
Cá kình cá nghê đâu chịu lưu luyến vũng nước chân trâu([5]).
Bể Nam thường hiện cá côn hóa chim bằng tung cánh([6]).
Vỗ cánh bay cao ngang với dòng sông Thiên Hà(7).
 
Dịch thơ:
Thế sự xem ra tựa bọ giòi,
Giàu sang sắp xếp mệnh trời soi.
Đói nghèo chẳng ngại đường sinh sống,
Vinh hiển mừng vui lối sẵn noi.
Tùng bách há hiềm sương tuyết đọng,
Kình nghê đâu quản lưới chài chòi.
Biển Nam sẽ thấy côn bằng dậy,
Vỗ cánh tung bay vút tận trời.
                               Trần Lê Sáng dịch
 
 
 











 
Phiên âm:
KÝ NGHIÊM PHỤ THỊ HUẤN THI
(Thời cái Ất Tị niên chi thập bát tuế dã. Thời dư chi Vân Canh
 du học, Nghiêm phụ tác thử thi dĩ huấn chi)
Nhĩ ly ngô lý chúc ngô mao,
Tính bản thông minh kiến thức cao.
Nhất quỹ dụng công tu học Khổng,
Phân âm tích quá thả sư Đào.
Hiển dương nhị tự nghi thâm niệm,
Viễn đại tiền trình vật đạn lao,
Khoa táo khắc gia giai lệnh tử,
Trúng hồng phương khả phó ngô bào.
 
Dịch nghĩa:
CHÉP BÀI THƠ CHA DẠY BẢO
(Bấy giờ là năm Ất Tỵ [1545], tôi 18 tuổi. Khi ấy tôi đi học
tại làng Vân Canh, cha tôi làm bài thơ này để dạy bảo tôi)
Con trai, bên trong con gắn liền với tâm phúc cha, bên ngoài con sát chặt với lông da cha([7]),
Bẩm tính con vốn thông minh, kiến thức con vốn cao.
Một sọt đất làm nên núi cũng phải cố hết sức, nên học lời Không Tử([8]),
Một khắc thời gian trôi qua cũng phải tiếc, hãy học theo chí của Đào Khản([9]).
Hai chữ “hiển dương” nên để sâu trong tâm niệm([10]),
Tương lai phía trước bao la rộng lớn, chớ có ngại nỗi gian lao.
Hơn cha hay nối được nghiệp cha đều là người con tốt cả,
Sao cho đỗ cao mới không phụ lòng cha([11]).
 
Dịch thơ:
Cất bước xa nhà, nhớ để lòng
Sách đèn kinh sử dám chạy rông
Tìm sâu nghĩa lý tâm nghiền ngẫm
Tham cứu văn chương sức gắng công
Lập chí báo đền ơn dưỡng dục
Dấn thân quyết vượt cửa hoá rồng
Hải côn há tỉ ao tôm tép
Chờ thấy tung trời rợp cánh lông
                                                      Trần Lê Sáng dịch
 
 
 
     








 
Phiên âm:
VIỄN KÝ HỮU NHÂN
Tự quân biệt hậu đáo vu câm (kim),
Ngư nhạn thư hy ký ngữ âm.
Dịch viễn chiết lan mai hựu dị,
Canh lan tưởng xứ mộng tương tầm.
Giang sơn tuy cách thiên dư lý,
Đạo nghĩa do tồn nhất thốn tâm.
Tự cổ đại tài ưng đại dụng,
Trượng phu khẳng dữ thế phù trầm.
 
Dịch nghĩa:
GỬI CHO BẠN NƠI PHƯƠNG XA
Từ khi từ biệt bác đến nay,
Ít khi có thư từ gửi thăm hỏi([12]).
Nhà trạm xa, bẻ cành mai gửi, mai lại non quá([13]),
Đêm canh tàn, nhớ chỗ bác đang ở, chỉ mơ mộng tìm.
Giang sơn tuy cách xa ngàn dặm,
Đạo nghĩa vẫn còn một tấc lòng.
Xưa nay tài lớn nên dùng vào việc lớn,
Trượng phu sao lại để mình nổi chìm theo đời?
 
Dịch thơ:
Từ ngày xa bạn đến nay,
Tình xưa gửi nhạn mỗi ngày một thưa.
Dặm xa mai nở đương vừa,
Lan tàn mấy độ mộng đưa mấy lần.
Cách non tuy mấy nghìn tầm,
Tấc lòng vẫn nhớ đạo gần nghĩa xa.
Đại tài đại dụng đạo ta,
Không vương thế tục mới là trượng phu.
                                           Trần Lê Sáng dịch
 
 
 
 










 
Phiên âm:
NGUYÊN ĐÁN
(Thời cái Nhâm Tý chi nhị thập ngũ tuế dã.
Thị niên thu thí trúng tam trường)
Nhâm Tý kim phùng hựu nhất xuân,
Tuế đoan tòng thử hỷ khai tân.
Đương tam dương hậu chân hoa đán,
Quán tứ thời tiên tối thượng tuần.
Chiếm bảng mật truyền mai tín tảo,
Nghênh thần liêu chước bách bôi tần.
Đáo lai thời tiết phong quang hảo,
Chính thị ngô nho đại dụng thân.
 
Dịch nghĩa:
MỒNG MỘT TẾT
(Bấy giờ là năm Nhâm Tý [1552], tôi 25 tuổi.
Mùa thu năm ấy, tôi thi trúng Tam trường)
Năm nay là năm Nhâm Tý, lại gặp một mùa xuân nữa,
Từ thời điểm đầu năm này, mừng cái mới đã mở ra.
Đương buổi tam dương([14]), thực là ngày tươi sáng,
Mà là tuần đầu tiên của suốt cả bốn mùa.
Chiếm đầu bảng hoa mai ngầm báo tin xuân([15]),
Đón buổi tốt lành, hãy rót luôn chén rượu bách([16]).
Thời tiết đến rồi, giờ phong quang rất tốt,
Đúng là lúc nhà nho ta được đại dụng([17]).
 
Dịch thơ:
Kiêm cả văn chương lẫn thọ lâu
Trời cho năm phúc khoẻ làm đầu
Nổi danh học giỏi nơi trường ốc
Để tiếng thanh quan chốn bá hầu
Đời tụng rùa thiêng còn mãi mãi
Tuyết che tùng bách biếc càng lâu
Trước sân chúc thọ ngày sinh nhật
Bắc đẩu Nam sơn sánh giãi dầu.
                                                 Trần Lê Sáng dịch
 
 
 









 
Phiên âm:
LOẠN THẾ TỰ THÁN
Tranh hùng cử thế mạn thao thao,
Thùy thức ngô nho chí khí hào.
Văn chiến bất sùng đồ vũ chiến,
Lực lao tự sính hốt tâm lao.
Si hiêu trực nghĩ đồng loan phượng,
Tùng bách đê khan tạp lý đào.
Đãi đắc thái bình thời tiết hảo,
Ta hồi thủy tín độc thư cao.
 
Dịch nghĩa:
TỰ THAN ĐỜI LOẠN
Khắp nơi nhao nhao nổi lên tranh hùng,
Nào ai biết nhà Nho ta chí khí hào hùng.
Người ta không chuộng tranh nhau bằng văn chương mà chuộng tranh nhau bằng gươm đao,
Chỉ chuộng lao lực mà xem nhẹ lao tâm([18]).
Loài cú vọ những muốn sánh cùng loan phượng,
Cây tùng cây bách hạ mình lẫn với mận đào.
Đợi đến thái bình, thời vận tốt,
Lúc ấy mới tin rằng đọc sách là cao quý.
 
Dịch thơ:
Tranh hùng bá chủ dấy binh đao,
Ai biết sĩ phu chí khí hào.
Văn chiến chẳng màng chuyên đánh chác,
Võ biền tự phụ bỏ tâm lao.
Cú diều cứ chực cùng loan phượng,
Thông bách xem thường khóm mận đào.
Chờ đến thái bình dân khí khá,
Bấy giờ sự học được nêu cao.
                                   Trần Lê Sáng dịch
   









 
Phiên âm:
BẠNG([19])
Hữu nhất giới lân cư thủy thượng,
Phi loa phi cáp kỳ danh bang.
Hàm châu đái giáp vũ văn tài,
Thổ vụ thôn ba hà hải lượng.
Ký đảo cuồng lan xuất lực phù,
Phương thăng hồng nhật khuynh tâm hướng.
Giang hà ngoại khuyết tổng tri danh,
Bỉ lộ thế cô an cảm kháng.
 
Dịch nghĩa:
CON TRAI
Có một loài giới lân ở dưới nước,
Không phải ốc, không phải hến, tên gọi là con trai.
Ngậm ngọc châu, mặc áo giáp, đủ cả tài văn võ,
Nhả ra mù, nuốt được sóng, có lượng lớn như sông bể.
Sóng dữ đã lật đổ, trai vẫn chống đỡ được,
Mặt trời đương mọc lên, trai để toàn tâm hướng về.
Khắp sông bể đâu đâu cũng đều biết tiếng,
Con cò kia thế cô, sao dám chống chọi với trai([20]).
 
Dịch thơ:
Một giống dênh theo nước thuỷ triều
Chẳng sò chẳng ốc nó là trai
Ngậm châu mang giáp vũ văn giỏi
Nuốt sóng nhả mây siêu việt tài
Dẹp tắt sóng cuồng phò xã tắc
Nâng cao hồng nhật tỏ tâm hoài
Giang hồ triều miếu đều hay tiếng
Cò nọ thế cô dám đọ tài!
                      Trần Lê Sáng dịch
 
 
                                  
 
 
 

 


([1])Bọ giấm trong lọ: dịch từ “úng kê”; bọ giấm trong lọ lúc nhúc ngoi lên lặn xuống, ở đây có ý xem thường thói tục bon chen.
([2])Phận định trời sinh: dịch từ cụm từ “nhậm thiên nghê”, theo điển lấy từ sách Trang Tử. Trong Trang Tử, “thiên” và “nghê” là chỉ cái phận tự nhiên do trời định.
([3])Câu này ý nói thi đỗ rồi thì đường công danh rộng mở như bước lên tầng mây xanh.
([4])Tùng bách là những cây thắng được giá rét, thường được dùng biểu trưng cho sự kiên trinh của người quân tử.
([5])Cá kình, cá nghê: tên hai loài cá lớn ở biển, dùng để chỉ người tài cao chí lớn muốn vùng vẫy ở đại dương, không chịu sống nơi tù đọng.
([6])-(7) Các điển này đều lấy ở sách Trang Tử, hình tượng cá côn hóa chim bằng tung cánh bay vạn dặm, biểu thị chí khí lớn, không tự giam cầm mình nơi ao tù.
([7])Câu này dùng ý thơ ở thiên Tiểu biền trong Kinh Thi: “Bất chúc vu mao, bất ly vu lý”, nói gọn là “ly lý chúc mao”, ý nghĩa: gắn liền với tâm phúc, khăng khít với da lông, chỉ quan hệ ruột thịt giữa cha mẹ với con cái.
([8])Sách Luận ngữ, thiên Tử Hãn trích lời Khổng Tử rằng: “Người đi học ví như đắp núi, còn một sọt đất nữa thì thành quả núi, nếu bỏ dở thì phí cả công lao trước đó”.
([9]) Đào Khản: một trong những vị khai quốc công thần của nhà Đông Tấn. Ông thường nói: “Đại Vũ là Thánh mới tiếc từng tấc bóng (chỉ quang âm, thời gian trôi qua), người thường nên tiếc từng phân bóng”.
([10])Hiển dương: tức câu “dương thanh danh, hiển phụ mẫu”, nghĩa là làm cho bản thân nổi danh, khiến cho bố mẹ vinh hiển.
([11])Nguyên văn có chữ “trúng hồng”, tức “trúng hồng tâm”, bắn trúng hồng tâm, trúng đích, ý nói người đỗ đạt cao.
([12])Câu này nguyên văn là “ngư nhạn thư hy”,tức hiếm có thư cá, thư nhạn. Xưa Cát Nguyên thấy một người bán một con cá to, bảo tạm phiền con cá này đưa tin đến cho Hà Bá. Người bán cá nói: “Cá đã chết”. Cát Nguyên viết bức thư chữ đỏ ấn vào miệng cá, rồi quẳng cá xuống sông. Một lát cá lại nhảy lên bờ, nhả ra một bức thư khác rồi biến đi. Thư nhạn, hay nhạn túc: Xưa Hán Vũ Đế bắn được con chim nhạn ở vườn Thượng Lâm, chân có buộc bức thư nói, Tô Vũ đi sứ bị Hung Nô đày đi chăn dê trên núi hiện vẫn còn sống.
([13])Bẻ cành mai gửi: dịch chữ “chiết mai”. Xưa Lục Khải chơi thân với Phạm Việp. Khi ở Giang Nam gặp người phu trạm, Lục Khải gửi cho Phạm Việp một cành mai và bài thơ có câu: “Giang Nam vô sở hữu, liêu tặng nhất chi mai” (Giang Nam không có gì; tạm gửi tặng một nhành mai) để biểu thị lòng nhớ bạn.
([14])Tam dương: chỉ tháng Giêng. Người ta thường gọi tháng Giêng là tháng Tam dương.
([15])Theo quan niệm xưa, hoa mai là loài đầu tiên trong muôn hoa nở báo xuân về. Nhà nho thường ví điều này với việc nhà nho thi đỗ đầu bảng.
([16])Chén rượu bách: xưa vào dịp tết, người ta thường ngâm rượu lá bách uống trừ hàn tà, mừng năm mới.
([17])Đại dụng: dịch chữ “đại dụng thân”, nghĩa là được tin dùng mà phó thác cho việc trọng đại.
([18])Lao tâm, lao lực: chữ dùng của Mạnh Tử, chỉ người lao động trí óc và người lao động chân tay. Nhà Nho chuộng lao tâm xem thường lao lực.
([19])Lại có thuyết nữa cho rằng bài này là của Trần Nguyên Hãn. Xem tác phẩm “Thảm án các công thàn khai quốc đời Lê” của Đinh Công Vĩ.
([20])Cò là giống hay mổ trai lúc trai há miệng ra.