PGS.TS Trần Lê Sáng là một trong những cây đại thụ chuyên ngành khoa học xã hội nhân văn mà tiêu biểu là những bài nghiên cứu của ông về Danh nhân văn hóa lịch sử - Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Ông cùng với các vị Giáo sư Trần Quốc Vượng; Bùi Duy Tân; Nguyễn Minh Tường; Phượng Vũ… đã vận động và tổ chức các Hội thảo khoa học, công trình nghiên cứu về Phùng Khắc Khoan rất công phu, tâm huyết cách đây đã hàng chục năm. Tiến tới kỷ niệm 500 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa lịch sử Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Ban Biên soạn trang web họ Phùng Việt Nam trân trọng giới thiệu chùm thơ Phùng Khắc Khoan do PGS.TS Trần Lê Sáng dịch.
Cuốn sách "Phùng Khắc Khoan - Hợp tuyển thơ văn"
其二
世事閒看似甕雞
安排富貴任天倪
不嫌白屋難為養
惟喜青雲尚有棲
松柏豈堪降雪凍
鯨鯢那肯戀涔蹄
南溟曾見鯤鵬奮
羽翼超升與漢齊
Phiên âm:
KỲ NHỊ
Thế sự nhàn khan tự úng kê,
An bài phú quý nhậm thiên nghê.
Bất hiềm bạch ốc nan vi dưỡng,
Duy hỷ thanh vân thượng hữu thê.
Tùng bách khởi kham hàng tuyết đống,
Kình nghê na khẳng luyến sầm đề.
Nam minh tằng kiến côn bằng phấn,
Vũ dực siêu thăng dữ Hán tề.
Dịch nghĩa:
BÀI HAI
Việc đời xem thường như bọ giấm trong lọ([1]),
An bài phú quý mặc kệ phận định trời sinh([2]).
Chẳng quản gì nhà tranh cảnh nghèo khó sống,
Riêng mừng đường mây nhẹ bước còn có thang lên([3]).
Cây tùng cây bách đâu chịu hàng phục trước tuyết giá([4]),
Cá kình cá nghê đâu chịu lưu luyến vũng nước chân trâu([5]).
Bể Nam thường hiện cá côn hóa chim bằng tung cánh([6]).
Vỗ cánh bay cao ngang với dòng sông Thiên Hà(7).
Dịch thơ:
Thế sự xem ra tựa bọ giòi,
Giàu sang sắp xếp mệnh trời soi.
Đói nghèo chẳng ngại đường sinh sống,
Vinh hiển mừng vui lối sẵn noi.
Tùng bách há hiềm sương tuyết đọng,
Kình nghê đâu quản lưới chài chòi.
Biển Nam sẽ thấy côn bằng dậy,
Vỗ cánh tung bay vút tận trời.
Trần Lê Sáng dịch
記嚴父示訓詩
時蓋乙巳年之十八歲也
時余之耘耕遊學嚴父作此詩以訓之
爾離吾裏屬吾毛
性本聰明見識高
一簣用功須學孔
分陰惜過且師陶
顯揚二字宜深念
遠大前程勿憚勞
跨灶克家皆令子
中紅方可副吾胞
Phiên âm:
KÝ NGHIÊM PHỤ THỊ HUẤN THI
(Thời cái Ất Tị niên chi thập bát tuế dã. Thời dư chi Vân Canh
du học, Nghiêm phụ tác thử thi dĩ huấn chi)
Nhĩ ly ngô lý chúc ngô mao,
Tính bản thông minh kiến thức cao.
Nhất quỹ dụng công tu học Khổng,
Phân âm tích quá thả sư Đào.
Hiển dương nhị tự nghi thâm niệm,
Viễn đại tiền trình vật đạn lao,
Khoa táo khắc gia giai lệnh tử,
Trúng hồng phương khả phó ngô bào.
Dịch nghĩa:
CHÉP BÀI THƠ CHA DẠY BẢO
(Bấy giờ là năm Ất Tỵ [1545], tôi 18 tuổi. Khi ấy tôi đi học
tại làng Vân Canh, cha tôi làm bài thơ này để dạy bảo tôi)
Con trai, bên trong con gắn liền với tâm phúc cha, bên ngoài con sát chặt với lông da cha([7]),
Bẩm tính con vốn thông minh, kiến thức con vốn cao.
Một sọt đất làm nên núi cũng phải cố hết sức, nên học lời Không Tử([8]),
Một khắc thời gian trôi qua cũng phải tiếc, hãy học theo chí của Đào Khản([9]).
Hai chữ “hiển dương” nên để sâu trong tâm niệm([10]),
Tương lai phía trước bao la rộng lớn, chớ có ngại nỗi gian lao.
Hơn cha hay nối được nghiệp cha đều là người con tốt cả,
Sao cho đỗ cao mới không phụ lòng cha([11]).
Dịch thơ:
Cất bước xa nhà, nhớ để lòng
Sách đèn kinh sử dám chạy rông
Tìm sâu nghĩa lý tâm nghiền ngẫm
Tham cứu văn chương sức gắng công
Lập chí báo đền ơn dưỡng dục
Dấn thân quyết vượt cửa hoá rồng
Hải côn há tỉ ao tôm tép
Chờ thấy tung trời rợp cánh lông
Trần Lê Sáng dịch
遠寄友人
自君別後到于今
魚雁書稀寄語音
驛遠折來梅又肄
更闌想處夢相尋
江山雖隔千餘里
道義猶存一寸心
自古大才應大用
丈夫肯與世浮沉
Phiên âm:
VIỄN KÝ HỮU NHÂN
Tự quân biệt hậu đáo vu câm (kim),
Ngư nhạn thư hy ký ngữ âm.
Dịch viễn chiết lan mai hựu dị,
Canh lan tưởng xứ mộng tương tầm.
Giang sơn tuy cách thiên dư lý,
Đạo nghĩa do tồn nhất thốn tâm.
Tự cổ đại tài ưng đại dụng,
Trượng phu khẳng dữ thế phù trầm.
Dịch nghĩa:
GỬI CHO BẠN NƠI PHƯƠNG XA
Từ khi từ biệt bác đến nay,
Ít khi có thư từ gửi thăm hỏi([12]).
Nhà trạm xa, bẻ cành mai gửi, mai lại non quá([13]),
Đêm canh tàn, nhớ chỗ bác đang ở, chỉ mơ mộng tìm.
Giang sơn tuy cách xa ngàn dặm,
Đạo nghĩa vẫn còn một tấc lòng.
Xưa nay tài lớn nên dùng vào việc lớn,
Trượng phu sao lại để mình nổi chìm theo đời?
Dịch thơ:
Từ ngày xa bạn đến nay,
Tình xưa gửi nhạn mỗi ngày một thưa.
Dặm xa mai nở đương vừa,
Lan tàn mấy độ mộng đưa mấy lần.
Cách non tuy mấy nghìn tầm,
Tấc lòng vẫn nhớ đạo gần nghĩa xa.
Đại tài đại dụng đạo ta,
Không vương thế tục mới là trượng phu.
Trần Lê Sáng dịch
元 旦
時蓋壬子之二十五歲也
是年秋試中三場
壬子今逢又一春
歲端從此喜開新
當三陽侯真華旦
冠四時先最上旬
占榜密傳梅信早
迎辰聊酌柏盃頻
到來時節風光好
正是吾儒大用伸
Phiên âm:
NGUYÊN ĐÁN
(Thời cái Nhâm Tý chi nhị thập ngũ tuế dã.
Thị niên thu thí trúng tam trường)
Nhâm Tý kim phùng hựu nhất xuân,
Tuế đoan tòng thử hỷ khai tân.
Đương tam dương hậu chân hoa đán,
Quán tứ thời tiên tối thượng tuần.
Chiếm bảng mật truyền mai tín tảo,
Nghênh thần liêu chước bách bôi tần.
Đáo lai thời tiết phong quang hảo,
Chính thị ngô nho đại dụng thân.
Dịch nghĩa:
MỒNG MỘT TẾT
(Bấy giờ là năm Nhâm Tý [1552], tôi 25 tuổi.
Mùa thu năm ấy, tôi thi trúng Tam trường)
Năm nay là năm Nhâm Tý, lại gặp một mùa xuân nữa,
Từ thời điểm đầu năm này, mừng cái mới đã mở ra.
Đương buổi tam dương([14]), thực là ngày tươi sáng,
Mà là tuần đầu tiên của suốt cả bốn mùa.
Chiếm đầu bảng hoa mai ngầm báo tin xuân([15]),
Đón buổi tốt lành, hãy rót luôn chén rượu bách([16]).
Thời tiết đến rồi, giờ phong quang rất tốt,
Đúng là lúc nhà nho ta được đại dụng([17]).
Dịch thơ:
Kiêm cả văn chương lẫn thọ lâu
Trời cho năm phúc khoẻ làm đầu
Nổi danh học giỏi nơi trường ốc
Để tiếng thanh quan chốn bá hầu
Đời tụng rùa thiêng còn mãi mãi
Tuyết che tùng bách biếc càng lâu
Trước sân chúc thọ ngày sinh nhật
Bắc đẩu Nam sơn sánh giãi dầu.
Trần Lê Sáng dịch
亂世自嘆
爭雄舉世漫滔滔
誰識吾儒志氣豪
文戰不崇徒武戰
力勞自逞忽心勞
鴟鴞直擬同鸞鳳
松柏低看雜李桃
待得太平時節好
些回始信讀書高
Phiên âm:
LOẠN THẾ TỰ THÁN
Tranh hùng cử thế mạn thao thao,
Thùy thức ngô nho chí khí hào.
Văn chiến bất sùng đồ vũ chiến,
Lực lao tự sính hốt tâm lao.
Si hiêu trực nghĩ đồng loan phượng,
Tùng bách đê khan tạp lý đào.
Đãi đắc thái bình thời tiết hảo,
Ta hồi thủy tín độc thư cao.
Dịch nghĩa:
TỰ THAN ĐỜI LOẠN
Khắp nơi nhao nhao nổi lên tranh hùng,
Nào ai biết nhà Nho ta chí khí hào hùng.
Người ta không chuộng tranh nhau bằng văn chương mà chuộng tranh nhau bằng gươm đao,
Chỉ chuộng lao lực mà xem nhẹ lao tâm([18]).
Loài cú vọ những muốn sánh cùng loan phượng,
Cây tùng cây bách hạ mình lẫn với mận đào.
Đợi đến thái bình, thời vận tốt,
Lúc ấy mới tin rằng đọc sách là cao quý.
Dịch thơ:
Tranh hùng bá chủ dấy binh đao,
Ai biết sĩ phu chí khí hào.
Văn chiến chẳng màng chuyên đánh chác,
Võ biền tự phụ bỏ tâm lao.
Cú diều cứ chực cùng loan phượng,
Thông bách xem thường khóm mận đào.
Chờ đến thái bình dân khí khá,
Bấy giờ sự học được nêu cao.
Trần Lê Sáng dịch
蚌
有一介鱗居水上
非螺非蛤其名蚌
含珠帶甲武文才
吐霧吞波河海量
既倒狂瀾出力扶
方升紅日傾心向
江河外闕總知名
彼鷺勢孤安敢抗
Phiên âm:
BẠNG([19])
Hữu nhất giới lân cư thủy thượng,
Phi loa phi cáp kỳ danh bang.
Hàm châu đái giáp vũ văn tài,
Thổ vụ thôn ba hà hải lượng.
Ký đảo cuồng lan xuất lực phù,
Phương thăng hồng nhật khuynh tâm hướng.
Giang hà ngoại khuyết tổng tri danh,
Bỉ lộ thế cô an cảm kháng.
Dịch nghĩa:
CON TRAI
Có một loài giới lân ở dưới nước,
Không phải ốc, không phải hến, tên gọi là con trai.
Ngậm ngọc châu, mặc áo giáp, đủ cả tài văn võ,
Nhả ra mù, nuốt được sóng, có lượng lớn như sông bể.
Sóng dữ đã lật đổ, trai vẫn chống đỡ được,
Mặt trời đương mọc lên, trai để toàn tâm hướng về.
Khắp sông bể đâu đâu cũng đều biết tiếng,
Con cò kia thế cô, sao dám chống chọi với trai([20]).
Dịch thơ:
Một giống dênh theo nước thuỷ triều
Chẳng sò chẳng ốc nó là trai
Ngậm châu mang giáp vũ văn giỏi
Nuốt sóng nhả mây siêu việt tài
Dẹp tắt sóng cuồng phò xã tắc
Nâng cao hồng nhật tỏ tâm hoài
Giang hồ triều miếu đều hay tiếng
Cò nọ thế cô dám đọ tài!
Trần Lê Sáng dịch