Nhà văn Phùng Văn Khai
Bộ sách “Phùng Khắc Khoan - hợp tuyển thơ văn”
Trong các năm 2012, 2013, thực hiện sự chỉ đạo của Ban Liên lạc họ Phùng Việt Nam (nay là Hội đồng), tôi được phân công cùng các nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử, nhà văn, nhà thơ thông thạo Hán Nôm quy hoạch và biên soạn bộ sách “Phùng Khắc Khoan - hợp tuyển thơ văn” phục vụ các hoạt động nhân kỷ niệm 400 năm ngày mất của Danh nhân văn hóa lịch sử - Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1613-2013). Những ngày tháng đó luôn rất sôi động và hạnh phúc với nhóm làm sách chúng tôi.
Bản thảo dồn về chất cao như những quả đồi nhỏ trên mặt bàn. Nguồn tư liệu chính yếu từ ba cây đại thụ là các Giáo sư Bùi Duy Tân; Giáo sư Trần Quốc Vượng; Phó Giáo sư Trần Lê Sáng đã cho chúng tôi thêm sức lực và trí tuệ để thực hiện bộ sách.
Trong quá trình biên soạn, phần dịch thơ vẫn còn nhiều khoảng trống. Tôi năn nỉ thuyết phục Tiến sĩ Đinh Công Vỹ và nhà văn Đặng Văn Sinh dịch những bài còn trống, song cũng chỉ được một phần. Thời gian cận kề thúc giục. Không còn cách nào khác, tôi khấn vong linh đức Trạng Bùng và xin phép được dịch thơ của ngài như một trách nhiệm của hậu nhân với tiền nhân với bút danh Phong Vân. Đó cũng là điều hết sức may mắn của người cầm bút thế hệ sau như tôi vậy.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
Mong được góp ý kiến phê bình!
雁
受 天 正 氣 得 陽 生
北 國 南 人 共 識 名
肅 肅 飛 時 輕 徤翮
雝 雝 鳴 處 響 和 聲
泮 冰 禮 重 新 婚 贄
帶 雪 書 通 故 國 情
識 序 向 同 兄 弟 義
人 而 格 物 要 當 明
Phiên âm:
NHẠN
Thụ thiên chính khí đắc dương sinh,
Bắc quốc Nam nhân cộng thức danh.
Túc túc phi thời khinh kiện cách,
Ung ung minh xứ hưởng hòa thanh.
Phán băng lễ trọng tân hôn chí,
Đới tuyết thư thông cố quốc tình.
Thức tự hướng đồng huynh đệ nghĩa,
Nhân nhi cách vật yếu đương minh.
Dịch nghĩa:
CHIM NHẠN
Bẩm thụ chính khí của trời, được khí dương sinh trưởng([1]),
Nước phía Bắc, người phương Nam đều biết tên([2]).
Khi bay chăm chắm, nhẹ đôi cánh khỏe,
Chỗ kêu lanh lảnh([3]) vang tiếng hài hòa.
Tan băng giá([4]) trọng lễ tình tân hôn,
Mang theo tuyết, lá thư thông mối tình cố quốc([5]).
Hiểu biết thứ tự, giống như nghĩa tình anh em([6]),
Người “cách vật” cần phải hiểu rõ lẽ ấy([7]).
Dịch thơ:
CHIM NHẠN
Phương Bắc đều biết tiếng
Phương Nam đều vang danh
Sinh từ trời từ đất
Sống có cội có cành.
Kêu tiếng vang lanh lảnh
Quả chuông xanh bên trời
Vai mang đôi cánh mỏng.
Một mối tình cố quốc
Một tấm lòng tuyết phơi
Một khối tình vẹn ước
Tan băng giá nơi nơi.
Nhân biết cao biết thấp
Nghĩa biết lở biết bồi
Lễ biết trên biết dưới
Người hiền sĩ trong đời.
Phong Vândịch
烏
知 渠 原 不 墨 之 徒
何 事 全 身 黑 染 烏
雙 翼 飛 來 紅 日 裡
數 聲 啼 破 碧 雲 衢
火 流 尾 上 祥 開 武
木 宿 臺 中 兆 應 朱
反 哺 况 能 明 點 好
阿 吳 視 汝 愧 心 無
Phiên âm:
Ô
Tri cừ nguyên bất mặc chi đồ,
hà sự toàn thân hắc nhiễm ô?
Song dực phi lai hồng nhật lý,
Sổ thanh đề phá bích vân cù.
Hỏa lưu vĩ thượng tường khai Vũ,
Mộc túc đài trung triệu ứng Chu.
Phản bộ huống năng minh điểm hảo,
A Ngô thị nhữ quí tâm vô?
Dịch nghĩa:
QUẠ
Biết chúng vốn không phải là bọn đen như mực,
Tại sao toàn thân lại nhuộm mầu đen.
Hai cánh bay([8]) tới chỗ mặt trời hồng,
Vài tiếng kêu làm lộ ra con đường mây xanh.
Điểm lửa cháy trên đuôi là điểm mở sự nghiệp của Vũ Vương([9]),
Đậu trên cây ở trong đài tạ là điềm ứng vào nhà Chu([10]).
Huống chi lại biết mớm trả lại([11]), đó là điểm tốt,
Chàng họ Ngô([12]) xem mày có thẹn lòng không.
Dịch thơ:
QUẠ
Vốn không phải bọn đen như mực
Vẫn toàn thân độc một gam tuyền
Cánh bay vỗ mặt trời hồng
Tiếng kêu lộ sáng bềnh bồng mây xanh
Bao nhiêu huân nghiệp rành rành
Khởi ra Vũ Đế, điềm lành Chu Vương
Từ ô hiếu thuận hiền lương
Chàng Ngô tự thẹn mà thương đến giờ.
Phong Vândịch
鼠
禮 稱 鼯 鼫 種 難 分
穴 處 胡 為 聚 以 群
資 厥 廩 倉 愚 太 甚
驅 之 陷 阱 智 奚 云
穿 墉 未 免 詩 人 刺
依 社 難 逃 烈 焰 薰
我 本 至 誠 能 動 物
劾 投 每 用 草 湯 文
Phiên âm:
THỬ
Lễ xưng ngô thạch chủng nan phân,
Huyệt xử hồ vi tụ dĩ quần.
Tư quyết lẫm thương ngu thái thậm,
Khu chi hãm tỉnh trí hề vân.
Xuyên dung vị miễn thi nhân thích,
Y xã nan đào liệt diễm huân.
Ngã bản chí thành năng động vật,
Hặc đầu mỗi dụng thảo Thang văn.
Dịch nghĩa:
CHUỘT([13])
Kinh Lễ gọi là “ngô”, “thạch”, thật khó phân biệt các loài chuột([14]),
Đã ở hang ở hốc, sao lại họp thành bầy.
Nó chỉ ở nhờ vào kho đụn, chứ thật là ngu,
Bị xua vào cạm bẫy, khôn mà như thế ư?
Đục tường cũng không tránh khỏi bị nhà thơ châm chích([15]),
Dựa vào nền xã([16]), khó tránh khỏi ngọn lửa dữ hun đốt.
Ta vốn rất thành thật, có thể cảm động đến cả loài vật,
Khi đàn hặc ta thường dùng văn của Trương Thang([17]).
Dịch thơ:
LOÀI CHUỘT
Sống tận hang cùng hốc
Chuyên tụ họp bầy đàn
Khi ngô lúc lại thạch
Phân biệt khéo gian nan.
Sợ bẫy chết ở bẫy
Chí trá thường khoét tường
Sống béo nhờ kho đụn
Cả một bầy bất lương.
Dựa dẫm hơi xã tắc
Tránh sao hoạ lửa hun
Xưa nay quân gian tặc
Đều có ngày diệt vong.
Ta tuy thương vạn vật
Mở lòng cùng chúng sinh
Văn Trương Thang ngày trước
Dùng cho ngô, thạchkinh.
Phong Vândịch
麥
百 穀 原 來 不 一 名
芃 芃 其 麥 得 全 生
頃 浮 翠 浪 當 秋 茂
隴 覆 黃 雲 正 夏 成
兆 應 兩 歧 歌 屢 播
收 來 百 室 喜 皆 盈
矧 今 天 啟 興 王 瑞
願 效 周 臣 頌 載 賡
Phiên âm:
MẠCH
Bách cốc nguyên lai bất nhất danh,
Bồng bồng kỳ mạch đắc toàn sanh (sinh).
Khoảnh phù thúy lãng đương thu mậu,
Lũng phúc hoàng vân chính hạ thành.
Triệu ứng lưỡng kỳ ca lũ bá,
Thu lai bách thất hỷ giai doanh.
Thẩn kim thiên khải hưng vương thụy,
Nguyện hiệu Chu thần tụng tái canh.
Dịch nghĩa:
LÚA MẠCH
Trăm giống lúa không phải chỉ có một tên,
Lúa mạch rườm rà được sống trọn vẹn.
Khoảnh ruộng nổi làn sóng biếc, xanh tốt trong mùa thu,
Cánh đồng có đám mây vàng phủ lên, thành thục vào mùa hạ.
Điềm ứng hai nhánh([18]), lời ca luôn vang dội,
Thu hoạch về trăm nhà, mừng đều đầy ních.
Huống chi nay trời mở điềm lành hưng vượng,
Nguyện bắt chước bề tôi nhà Chu vừa tụng vừa họa lại([19]).
Dịch thơ:
LÚA MẠCH
Lúa kia trăm giống trăm tên
Riêng bông lúa mạch góp lên mùa vàng
Ngày xưa có ông Trương Kham
Ứng Điềm hai nhánhđức vang dặm trời
Thu vàng sóng mạch tốt tươi
Khởi từ mùa hạ bời bời mầm xanh
Ơn trời đất nở điềm lành
Ta nay ca khúc thái bình nhà Chu.
Phong Vândịch
黍
粵 自 神 農 初 藝 時
穀 名 有 黍 土 咸 宜
嘉 苗 得 雨 芃 芃 秀
好 穗 如 雲 累 累 垂
后 稷 教 民 勤 降 種
周 公 愛 主 寓 陳 詩
蒸 民 乃 粒 功 為 大
但 願 皇 王 稼 穡 知
Phiên âm:
THỬ
Việt tự Thần Nông sơ nghệ thì,
Cốc danh hữu thử thổ hàm nghi.
Gia miếu đắc vũ bồng bồng tú,
Hảo tuệ như vân lũy lũy thùy.
Hậu Tắc giáo dân cần giáng chủng,
Chu Công ái chủ ngụ Trần thi.
Chưng dân nãi lạp công vi đại,
Đãn nguyện hoàng vương giá sắc tri.
Dịch nghĩa:
LÚA NẾP
Từ khi vua Thần Nông([20]) bắt đầu trồng lúa,
Lúa có tên là lúa nếp thích nghi với mọi vùng đất.
Mạ đẹp được mưa, tốt lên mượt mà,
Bông tốt như mây, rủ xuống nặng trĩu.
Hậu Tắc([21]) dạy dân siêng năng đặt giống,
Chu Công([22]) yêu chúa, gửi gắm khi trình bày bài thơ.
Dân chúng được hạt gạo ăn, công lao lớn lắm,
Chỉ mong đấng quân vương biết đến công việc cấy cày.
Dịch thơ:
LÚA NẾP
Thần Nông trồng lúa trên đồng
Bao nhiêu lúa nếp bấy vùng tươi xanh
Mưa nhuần cây mạ lên nhanh
Siêng năng bông trĩu lòng thành hát ca:
“Kể từ Hậu Tắc ngày xưa
Đến Chu Công lấy cày bừa dạy dân”
Dân hiền bưng bát cơm ăn
Ơn trên hôm sớm trở trăn nếp vàng.
Phong Vândịch
竹
好 尚 淇 園 植 美 名
此 君 舊 譜 簡 猶 青
高 標 挺 出 雲 霄 迥
勁 節 依 然 霜 雪 經
衛 武 德 猶 聞 後 世
溫 公 望 久 注 生 靈
春 來 更 喜 龍 孫 長
繼 襲 侯 封 列 笋 庭
Phiên âm:
TRÚC
Hảo thượng kỳ viên thực mỹ danh,
Thử quân cửu phả giản do thanh.
Cao tiêu đĩnh xuất vân tiêu quýnh,
Kính tiết y nhiên sương tuyết kinh.
Vệ Vũ đức do văn hậu thế,
Ôn công vọng cửu chú sinh linh.
Xuân lai cánh hỷ long tôn trưởng,
Kế tập hầu phong liệt duẩn đình.
Dịch nghĩa:
CÂY TRÚC
Ưa chuộng danh tốt đẹp cây trồng trong vườn bờ sông Kỳ([23]),
Bản phả xưa nay của nhà vua, thẻ trúc còn xanh.
Nêu cao sừng sững giữa mây trời xa xôi,
Đốt cứng vẫn như thế với tuyết sương từng nếm trải([24]).
Đức của Vũ công nước Vệ còn vọng đến đời sau([25]),
Danh vọng của Ôn công từ lâu đã tưới nhuần xuống dân chúng([26]).
Xuân sang lại càng vui mừng cháu rồng khôn lớn([27]),
Thừa kế nghiệp phong hầu bày ra trên sân như măng mọc([28]).
Dịch thơ:
CÂY TRÚC
Ưa chuộng danh tốt đẹp
Xanh bên bờ sông Kỳ
Chuyện quân vương, xã tắc
Thắm trong lòng khắc ghi.
Miên man trời mây trắng
Sừng sững phơi sông trôi
Tuyết sương hằn in bóng
Trơ gan giữa đất trời.
Đức cao kia còn đó
Tiếng thơm sau xanh đời
Dân gian truyền tụng khắp
Đâu chỉ sông Kỳ thôi.
Ừ nhỉ xuân sang thật
Khói sóng mờ chân trời
Ô kìa mầm măng nhỏ
Lấp lánh tựa sao rơi.
Phong Vândịch
廣 西 留 題
客 自 山 西 到 廣 西
越 來 行 禮 執 璋 圭
趨 堂 贄 謁 上 司 漢
夾 道 人 迎 新 使 黎
禮 樂 衣 冠 千 里 共
冕 旒 宮 殿 五 雲 低
拜 墀 敬 祝 皇 王 壽
恆 北 衡 南 高 與 齊
Phiên âm:
QUẢNG TÂY LƯU ĐỀ
Khách tự Sơn Tây đáo Quảng Tê (Tây),
Việt lai hành lễ chấp chương khuê.
Xu đường chí yết thượng ty Hán,
Giáp đạo nhân nghênh tân sứ Lê.
Lễ nhạc y quan thiên lý cộng,
Miện lưu cung điện ngũ vân đê.
Bài trí kính chúc hoàng vương thọ,
Hằng bắc Hành nam cao dữ tề.
Dịch nghĩa:
THƠ ĐỀ LƯU LẠI QUẢNG TÂY
Khách từ Sơn Tây đến Quảng Tây([29]),
Cầm ngọc chương, ngọc khuê đến làm lễ triều cống.
Lên công đường, mang lễ vật yết kiến quan trên người Hán,
Hai bên đường, dân đón chào sứ giả mới của nhà Lê.
Tuy cách ngàn dặm nhưng lễ nhạc mũ áo vẫn giống nhau,
Mũ miện, cung điện nhà vua có mây năm sắc bao trùm.
Lạy ở thềm kính chúc hoàng đế trường thọ,
Thọ ngang với Hằng Sơn phương Bắc, Hành Sơn phương Nam([30]).
Dịch thơ:
THƠ ĐỀ Ở QUẢNG TÂY
Từ tạ Sơn Tây đến Quảng Tây
Ngọc vàng từ biểu lễ đủ đầy
Công đường yết kiến Thượng ty Hán
Muôn dặm dân tình cảm động thay
Xa xôi vẫn một triều nghi ấy
Rộn ràng áo mũ năm sắc mây
Cung kính chúc thánh quân vạn thọ
Sánh tựa Hằng Sơn, Hành Sơn này.
Phong Vândịch
MỘT SỐ HÌNH ẢNH:
Trung tướng Phùng Khắc Đăng và gia đình nhà văn Phùng Văn Khai
trước đền thờ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan - Hà Nội
Trung tướng Phùng Khắc Đăng và mẹ nhà văn Phùng Văn Khai
trước lư hương tại đền thờ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan - Hà Nội
Từ trái sang: GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc; TS Phùng Thảo; Nhà văn Phùng Văn Khai
chụp ảnh trước đền thờ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan