Tiến sĩ Phùng Thảo
Phó Chủ tịch Hội đồng họ Phùng Việt Nam
Tiến sĩ Phùng Thảo
Viên ngoại lang Phùng Chân - Thế kỷ 11 (Lý)
(Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư. Tập 1. Tr 244. NXBKHXH. Năm 1998)
Viên ngoại lang Phùng Chân là người theo vua Lý Thái Tổ, ông đã được vua Lý Công Uẩn cử đi sứ Trung Quốc (1014). Khi đi sứ Tàu, ông đem theo 100 con ngựa sang biếu vua Tống. Phùng Chân đã gặp vua Tống, ra mắt ở điện Sùng Đức, Phùng Chân được vua Tống đón tiếp rất trọng. Giáp Dần năm tứ 5 (1014), Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Năm 1004, xuống chiếu cho viên ngoại lang là Phùng Chân và Lý Hạc đem một trăm con ngựa bắt được của người Man sang biếu nhà Tống. Vua Tống xuống chiếu cho quan sở tại sai sứ thần đón tiếp, cùng đi đến cửa khuyết, mọi khoản cung đốn dọc đường đều được chu cấp đầy đủ. Khi đến, vua Tống gọi bọn Chân vào ra mắt ở điện Sùng Đức, ban cho mũ, đai, đồ dùng, tiền bạc theo thứ bậc” (tr.126). Sách Khâm Định cương mục cũng chép tương tự.
Tướng quân Phùng Trí Năng - Thế kỷ 11 (Lý)
(Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư. Tập 1. Tr 268. NXBKHXH. Năm 1998)
Mậu Tý năm thứ 5 (1048), Tống Khánh Lịch năm thứ 8, mùa Thu, tháng 9, Vua Lý Thái Tông sai tướng quân là Phùng Trí Năng đi đánh Ai Lao, quân ta thắng trận, bắt được người và gia súc rất nhiều. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Năm 1048, mùa thu, tháng 9, sai tướng quân là Phùng Trí Năng đi đánh Ai Lao, bắt được rất nhiều người và gia súc đem về”.
Phùng Đỗ - Thế kỷ 11 (Lý)
(Nguồn: Vị thế của 3 vùng đất Hải Ấp - Tinh Cương - Phương La trong sự nghiệp của vương triều Trần. Phạm Minh Đức, Sở Văn hóa Thông tin Thái Bình)
Họ Phùng quê gốc làng Đồng Bảng, huyện Minh Nghĩa, đạo Sơn tây. Tổ khai nghiệp là Đô hỏa đầu Phùng Đỗ, ông thờ các vua Lý Thái Tông, Thánh Tông, và Nhân tông. Sự tích làng Hổ Đội (xã Thụy Lương huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình) kể rằng: “Thời vua Lý Thái Tông 1028 - 1054, Cao Bằng có loạn, quân giặc thường đến cướp phá, dân không được sống yên ổn. Vua Lý Thái Tông sai Phùng Đỗ, một danh tướng thời ấy đi dẹp loạn. Tướng quân Phùng Đỗ đem quân đánh thẳng vào đông Ma Sa, sào huyệt của quân giặc, bắt được tướng giặc. Chiến công của Phùng Đỗ đã giữ yên được biên ải, ông được triều đình ban thưởng, khi ông mất được phong thần. Ở đình làng Hổ Đội xưa có câu đối:
Nhất trận Ma Sa kinh phá phủ
Thiên thu Hổ Đội thượng dư uy”.
Nghĩa là một trận đánh phá tan sào huyệt Ma sa của giặc, giặc phải kinh sợ. Nghìn năm sau uy danh vẫn còn ở đất Hổ Đội.
Tả nhai - Phùng Tá Thang - Thế kỷ 12-13 (Thời Trần)
(Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư. Tập 2. Tr 20. NXBKHXH. Năm 1998; năm 2019 Khảo sát tại chùa Phúc Lâm huyện Khiến Xương tỉnh Thái bình; Họ Phùng ở Thái Bình thời Trần. Phạm Minh Đức, Sở Văn hóa Thông tin Thái Bình)
Có ý kiến cho rằng, Phùng Tá Thang quê ở xã Hưng Xá, nay thuộc thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, có ý kiến lại cho quê ông ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, sau dời sang Mỹ Xá - Thái Bình, nhưng lại có ý kiến cho rằng: Quê ông ở Tây Đằng, Ba Vì, Hà Nội.
Phùng Tá Thang là người đứng đầu Phật giáo thời Trần Thái Tông (1225-1258). Ông là trí thức xuất sắc dưới triều Lý - Trần, ông có công đóng góp vào quá trình hình thành giáo phái Trúc Lâm. Trần Thái Tông là học trò của Phùng Tá Thang về giáo lý đạo Phật. Đương thời, ông đã gặp Trần Cảnh lúc còn nhỏ, ngắm kỹ dung nhan và tiên lượng rằng, người này dung mạo khác thường, sau này sẽ là quân vương. Sau đó cha con ông đã sớm tham gia hưng nghiệp nhà Trần, giúp vua Trần Thái Tông hiểu biết đạo phật. Tháng 3 năm Quý Mão (1243), Phùng Tá Thang được vua Trần phong tước Tả Nhai, phẩm cao nhất của Tăng đạo. Đại Việt sử ký toàn thư chép: ”Tháng 3, cho Phùng Tá Thang, cha Phùng Tá Chu làm Tả Nhai đạo lục tước Tả nhai”. Bấy giờ các vương hầu bổ quan tăng đạo thì gọi Tả nhai, vì không để cho đứng vào hàng ngũ các quan trong triều. Tả nhai là phẩm cao nhất của tăng đạo, không phải là người thông thạo tôn giáo của mình thì không được dự can. Nay đem phong cho Tá Thang là lẽ ưu hậu lắm”. Sách Khâm Định Việt sử thông giám cương mục cũng chép như vậy.
Phùng Tá Thang là cha đẻ của Phùng Tá Chu, ông đã có công giáo dục, hình thành nhân cách, tài năng, trí tuệ và đức độ của nhân vật lịch sử lớn Phùng Tá Chu - Người có công lớn giúp nhà Trần thành công trong buổi đầu dựng nghiệp. Phùng Tá Thangmất ở chùa Lộng Khê được thờ ở chùa Lộng Khê sau sư Giác Hải (xã An Khê, huyện Phụ Dực, tỉnh Thái Bình). Ông là người sáng lập ra chùa Phúc Lâm xã Bình Minh, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, là sư tổ của chùa, được thờ ở chùa sau thượng tọa Đạt Ma.
Thái phó lưỡng triều Lý - Trần, Phùng Tá Chu - Thế kỷ 13
(Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư. Tập 1 và tập 2. NXBKHXH. Năm 1998.
Việt sử lược. NXBVSĐ. Năm 1960)
Phùng Tá Chu là con trai Đạo sĩ, Tả nhai tài năng Phùng Tá Thang thời Lý - Trần, Phùng Tá Chu sinh năm nào không có sách nào chép ở làng Mẽ, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông mất năm 1241, mộ táng tại đồi Cao, thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, đây là vùng đất địa linh, có quần thể tâm linh: Chùa Cao, đền Cao, nơi có ang nước, nơi tụ thủy, tụ linh, tụ lộc. Mặt lăng mộ nhìn hướng Nam, hướng của “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ” hướng của trí tuệ, mát mẻ, siêu thoát, vạn vật sinh sôi nảy nở, nơi Tản Viên sơn Thánh trở thành Đệ nhất thượng đẳng tối linh thần, đứng đầu trong “tứ bất tử” của trời Nam. Nơi đây không gian thoáng đãng, vượng khí phủ đầy, quanh năm vi vu gió núi, mây trời, nơi quan Thái phó lưỡng triều Phùng Tá Chu yên giấc ngàn thu.
Sinh thời Phùng Tá Chu làm quan Nội hầu, sau làm quan Thái phó lưỡng triều Lý - Trần (ba chức thái sư, thái phó, thái bảo được gọi là tam công hoặc tam thái, chức vụ chỉ đứng sau vua, đứng đầu triều, giúp đỡ nhà vua, điều hòa âm dương, tiến cử người hay, loại bỏ người dở, để mưu toan chính trị). Ông đã đem hết tài “kinh bang tế thế” để cùng vua quan nhà Lý - Trần giữ bình yên xã tắc. Ông là người có công đặt nền móng xây dựng, mở nghiệp nhà Trần. Vua Trần đã phong ông làm “Phụ quốc Thái phó”, “Hưng nhân đại vương”, “Đệ nhất công thần”; các triều đại phong kiến coi ông là “Đệ nhất phúc thần”.
Bà Phùng Thị - Thế kỷ XIII
(Nguồn: Chuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam.
Tr 99. NXBPN. Năm 2009. TS. Đinh Công Vỹ)
Cuối triều Lý, ở làng Lưu Gia có ông Trần Hấp lấy con gái nhà buôn cá sinh ra Trần Lý và Trần Thiện. Trần Lý sinh Trần Thừa, Trần Tự Khánh, và Trần Thị dung (sau này Trần Thị lấy Lý Huệ Tông và trở thành Hoàng hậu). Trần Thiện lấy người con gái họ Phùng người làng Mỹ Xá, Hưng Nhân, Thái Bình có họ với quan Thái phó Phùng tá chu. Bà Phùng Thị không rõ tên. Bà sinh được hai người con trai, con cả là Trần An Quốc và em là Trần Thủ Độ. “Em Lý là Thiện lấy con gái họ Phùng. Họ Phùng Ở Lưu Gia về mặt giàu có kém xa họ Trần, họ Tô nhưng thông tuệ thì khác thường, nổi bật, được mệnh danh là “cái bồ đựng sách” nho, y, lý, số, phong thủy...khắp vùng này, những người cần đều phải đến hỏi, tôn làm thầy”. “vợ chồng Trần Thiện sinh được 2 con trai. Con trưởng là An Quốc sinh năm Tân Hợi (1191), con thứ là Thủ Độ cũng như Dung sinh năm Giáp Dần (1194), đều cùng năm với Thái tử Sảm” Sau này, Trần Thủ Độ là người có công cùng các cựu thần nhà Lý như Tá Chu, Tô Trung Từ, phạm kinh Ân cách tân triều Lý, dựng nghiệp triều Trần Đông A.
Thiếu phó Phùng Sĩ Chu- Thế kỷ XIII (1289)
(Nguồn: Đại việt sử ký toàn thư. Tập 2. Tr 65. NXBKHXH. Năm 1998;
Tư liệu cuộc Tọa đàm về họ Phùng nghệ An tại Cửa Lò ngày 27/12/2020)
Căn cứ lí lịch di tích nhà thờ họ Phùng Đại Tôn của Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An và theo Gia phả họ Phùng ở làng Xuân Trạch, xã Nam Cường, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nhà thờ họ Phùng Đại Tôn thờ tiên tổ và hậu duệ họ Phùng, một dòng họ có nhiều danh tướng, lương thần, công hầu kế thế có công với dân với nước được nhân dân lập đền thờ và con cháu xây dựng nhà thờ để quanh năm hương khói phụng thờ. Dòng họ Phùng ở xã Nam Cường là nơi khởi nguồn của các nhánh họ Phùng ở tỉnh Nghệ An như: Thị xã Cửa Lò, huyện Nghi Lộc, huyện Yên Thành, huyện Thanh Chương… và một số tỉnh khác như Bắc Giang, Hà Tĩnh. Theo Gia phả của dòng họ, Phùng Sĩ Chu làm quan Hành Khiển, sau thăng lên đến Thiếu phó thời Trần Nhân Tông (thế kỷ XIII - 1289), ông là viễn tổ họ Phùng ở Nam Đàn. Hậu duệ của ông gồm những người con, cháu có công với dân với nước như: Lê triều khai quốc công thần Dĩ Quận công Phùng Bá Lộc, Đề đốc thập vệ quân Phùng Bá Ngự, Thiếu bảo Lễ quận công Phùng Bá Đạt, Đông quận công Phùng Bá Nghị, Phùng Viết Đán. Hiện nay ba nhà thờ họ Phùng ở làng Xuân Trạch, xã Nam Cường, huyện Nam Đàn; nhà thờ họ Phùng ở phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò; nhà thờ họ Phùng ở xã Phú Thành, huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An đã được UBND tỉnh cấp bằng di tích lịch sử cấp tỉnh.
Kỷ Sửu 1289, Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Sĩ Chu người xã Cổ Liễu, Trà Hương. Khi người Nguyên sang, vua sai Sĩ Chu bói. Sĩ Chu đoán rằng: “Thế nào cũng đại thắng”. Vua mừng bảo: “Nếu đúng như lời đoán, sẽ có trọng thưởng”. Giặc yên, vua nói: “Thiên tử không nói đùa”. Do đấy, có lệnh này. Sĩ Chu là người trung hiếu, có tài văn nghệ, làm quan đến Thiếu phó, hiệu là Tốn Trai tiên sinh”. Sách Khâm Định Cương mục cũng chép như vậy.
Trung đô doãn Phùng Cụ - Thế kỷ XIV
(Nguồn: Đại Việt sử ký tiền biên. Tr 499. NXBKHXH. Năm 1997)
Năm 1394 Mùa Thu, tháng 7, vua Trần Thuận Tông cho Phùng Cụ làm Kinh sư doãn, sau làm Trung đô doãn. Đại Việt sử ký tiền biên chép: “Năm 1394, mùa thu, tháng 7 lấy Phùng Cụ làm Kinh sư doãn sau đổi thành Trung đô doãn”.
Phùng Thế Kỳ - Thế kỷ XIV
(Nguồn: Vị thế 3 vùng đất Hải Ấp - Tinh Cương - Phương La trong sự nghiệp vương triều Trần. Phạm Minh Đức, Sở Văn hóa Thông tin thái Bình)
Phùng Thế Kỳ cháu đời thứ 12 của Phùng Đỗ, ông là bậc cao nhã, giỏi võ nghệ, theo hầu thân vương Trần Kính, Phùng Thế Kỳ có công phò tá Trần Nghệ Tông đánh ngụy vương Dương Nhật Lễ. Ông Lại dốc lòng trung với vua dẫn quân Hổ Bôn tham gia đánh dẹp lập công lớn, được vua gả công chúa Thiên Hương, ban chức Phò mã đô úy, lấy đất láng huyện Từ Liêm làm thang mộc, ban lộc điền và ruộng kế nghiệp ở vùng cửa sông Tu - huyện Thụy Anh tỉnh Thái Bình.
Cuối thế kỷ XIV, nhà Trần suy yếu, quyền binh trong triều đều do Lê Quí Ly nắm giữ. Năm 1398 Lê Quí Ly bức vua Trần Thuận Tông nhường ngôi cho con là Trần Thiếu Đế còn nhỏ tuổi. Năm 1400 Lê Quí Ly tìm cớ giết vua Trần Thuận Tông, phế bỏ Thiếu Đế, tự lập mình làm vua và đổi họ Lê thành họ Hồ Quí Ly (họ Hồ gốc). Thấy họ Hồ làm việc bạo nghịch, phò mã đô úy Phùng Thế Kỳ con rể vua Trần Thuận Tông, có ý định “phù Trần diệt Hồ”, ông chiêu mộ những người có ý định chống lại họ Hồ, lập đạo quân tinh nhuệ lấy tên là Hổ Đội, đạo quân Hổ Đội thủ hiểm vùng tả ngạn sông Đà, lo thanh viện cho tướng Trần Khát Chân ở kinh thành. Việc bại lộ, Trần Khát Chân bị giết, Phùng Thế Kỳ đã cùng vợ là công chúa Thiên Hương và những người thân tín đem theo 12 dòng họ bỏ kinh thành vượt qua muôn vàn khó khăn đi xây dựng quê hương mới ở vùng đất huyện Phụ Dực Thái Bình, khai hoang, mở đất, lập làng nuôi chí phù Trần, nên lấy tên làng là Hổ Đội để nhớ về đội quân của mình.
Khi hai ông bà mất, dân làng Hổ Đội tôn làm thành hoàng. Vì ông bà không có con nên ở làng Hổ Đội ngày nay không có người họ Phùng, nhưng gia phả họ Trần - họ của công chúa Thiên Hương vẫn còn ghi: Thủy tổ họ Trần vốn là anh em cháu chú, cháu bác với công chúa Thiên Hương. Hiện nay làng Hổ Đội vẫn giữ được 21 sắc phong thần của các triều trước cho các vị thành hoàng.
Dân làng Hổ Đội vẫn truyền nhau kể rằng: Xưa kia đường Giằng Cày là cánh đồng thuộc làng Quang Lang xã Thụy Hải. Dân Quang Lang đến mở đất trước dân Hổ Đội, sau thấy không tiện vì phải đi xa nên đem bán cho dân Hổ Đội, khi dân Hổ Đội gánh tiền (tiền đồng) đến trả đã trộn sỏi đá xuống dưới, dân Quang Lang không kiểm tra đã ký vào văn tự. Khi dân Hổ Đội về mới phát hiện ra có sỏi trong tiền, dân Quang Lang phát đơn kiện quan trên, nhưng vì trong văn tự mua bán đã có chữ ký đầy đủ của dân Quang Lang, quan xử cho dân Hổ Đội thắng kiện, mùa đến dân Hổ Đội đánh trâu bò ra cày, đôi bên giằng co nhau, người cầm cầy, người giữ cày. Cuối cùng quan trên vẫn xử cho dân Hổ Đội thắng. Từ đấy cánh đồng và đoạn đường có tên Giằng cày. Lại nói về đồng tiền “sành” mà dân Hổ Đội trả, dân Quang Lang không tiêu được đem đổ đi, nơi ấy có tên cánh đồng Sành.
Năm 2003, thực hiện quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình về tổ chức lại thôn, Hổ Đội chia làm 4 thôn, nhưng dân làng vẫn giữ tên thôn là thôn Hổ Đội.
Phùng Lộc Hộ
(Nguồn: Theo thần phả đền Trúc Lâm, sách Danh thần danh nhân họ Phùng đất Việt. NXBLĐ. Năm 2011. Tr 51. Phan Thị Bảo )
Theo thần phả đền Trúc Lâm thôn Đồng Bảng, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, Phùng Lộc Hộ là con bà Phùng Thị Dong. Khi mới sinh ra Lộc Hộ đã là đứa trẻ khác thường, thông minh, ăn khỏe, lớn nhanh như thổi, ham mê tập võ nghệ và rất giỏi võ. Khi quân Nguyên sang cướp nước ta, vua Trần Thái Tông xuống chiếu tìm người hiền tài ra giúp nước. Phùng Lộc Hộ được Vua Trần phong tướng và giao chỉ huy đội quân đánh trả tướng giặc là Ngột Lương Hợp Thai ở ngã ba Hạc Việt Trì. Ông đã chỉ huy đội quân chiến đấu dũng cảm, làm cho giặc hoang mang, lo lắng, mất ăn mất ngủ. Trận quyết chiến giữa ta và địch lên đến đỉnh điểm và cuối cùng tướng giặc Ngột Lương Hợp Thai đã phải dẫn quân tháo chạy thoát thân về nước. Sau trận chiến ông bị thương nặng, trở về làng Thổ Tang và hóa tại đây. Dân lang Thổ Tang vô cùng thương tiếc vị tướng đức độ, tài danh, đã dựng miếu gọi Miếu Trúc thờ ông làm Thành hoàng làng Thổ Tang. Vua Trần rất thương tiếc ông, đã phong tước cho ông là Đô Thống Đại vương còn gọi là Lân Hổ hầu và ban cho tám chữ: “Nam Thiên Tráng Khí Bắc Khấu Hàn Tâm” nghĩa Là “Trời Nam Khí Mạnh, Giặc Bắc Lòng Run”. Ngoài làng Thổ Tang lập Miếu Trúc thờ ông, nhiều địa phương trên đường ông dẹp giặc như đền Long Trù, Phương, Đồng Cương, Đồng Vệ, Lưỡng Quán Tử xã, Dục My, Xuân Dương, Thùy Dương...Nhân dân thôn Đồng Bảng vô cùng thương tiếc ông, người con ưu tú của quê hương đã anh dũng đánh giặc, hy sinh vì dân vì nước, và dân làng đã lập đền thờ ghi nhớ công lao to lớn của vị danh tướng quê hương. Cửa đền có ba chữ “Trúc Lâm Đường”.
Thị lang Bộ lễ Phùng Nhậm - Thế kỷ XV (1428)
(Nguồn: Vị thế 3 vùng đất Hải Ấp - Tinh Cương - Phương La trong sự nghiệp vương triều Trần. Phạm Minh Đức, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Thái Bình)
Ông là hậu duệ của Hưng Nhân Đại Vương Phùng Tá Chu, sinh ra ở làng Mỹ Xá, nay thuộc thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, học một biết mười, có tài tranh biện. Tự cho mình sinh bất phùng thời nên không dự các kỳ thi cuối Trần và thời nhà Hồ. Nghe lời hiệu triệu của Lê Lợi, Phùng Nhậm về doanh Bồ Đề ra mắt Bình Định Vương, ông được tiếp đãi trọng thị, ông cùng Bùi Quốc Hưng giúp việc Nguyễn Trãi. Năm 1428, khi Lê Lợi lên ngôi, ông được phong chức Thị lang bộ Lễ và ở cương vị này đến cuối đời.
Thẩm hình viện đồng tri -
Tả đô đốc Phùng Tiến Đạt - Thế kỷ XV
(Đại Việt sử ký toàn thư Tập 1.Tr.378. NXBKHXH. Năm 1998. Vị thế 3 vùng đất Hải Ấp- Tinh Cương - Phương La trong sự nghiệp vương triều Trần. Phạm Minh Đức, Sở Văn hóa Thông tin Thái Bình)
Ông là con trai Thị lang Phùng Nhậm. Từ nhỏ, Phùng Tiến Đạt được dạy dỗ chu đáo. Năm Kỷ Dậu, Thuận Thiên thứ 2 (1429), ông vào học trường Quốc Tử Giám, được liệt vào hạng Thượng xá nhân, hưởng học bổng loại cao nhất. Năm Thuận Thiên thứ 6 (1433), ông đứng đầu trong số các giám sinh khoa Hoành từ, được cử làm Xá nhân ở bộ Lễ.
Lê Nhân Tông lên ngôi, ông được chuyển làm Tả Môn hạ sảnh, đứng đầu Tả ty, chức Tả Thị lang, ít lâu sau chuyển ra ngoài trấn giữ chức Tri Tây đạo quân dân ba tịch, bao quát cả vùng phía tây kinh lộ. Thời ấy, xứ Đoài liên tiếp được mùa, mọi tô thuế, phú liễm dâng nộp triều đình chu tất. Phùng Tiến Đạt được điều về kinh làm Gián nghị đại phu. Năm Thái Hòa thứ 9 (1451), được phong chức Thẩm hình viện sự đồng tri cùng một số người đi sứ nhà Minh mừng vua Minh lên ngôi. “Ngày 18 Tân Mùi (1451), vua sai Thẩm hình viện đồng tri Phùng Văn Đạt sang nhà Minh mừng vua Minh lên ngôi”.
Năm Quang Thuận thứ nhất (1460), Lê Thánh Tông (Tư Thành) lên ngôi hoàng đế, ông thành Quốc trượng, được “vinh phong” Tả đô đốc. Tất cả các án từ các nha môn trong cung ngoài trấn nộp về chính đường ông đều hội thẩm công đồng bàn xét kỹ, quyết đoán công bằng. Khi Thánh Tông ban luật Hồng Đức, Thẩm hình viện sự Phùng Tiến Đạt soi đọc từng điều, từng chữ rồi viết thành sớ trình vua quyết đáp, được vua khen: “Nghiêm cẩn”.
Hoàng thái hậu Phùng Thị Thục Giang - Thế kỷ XV
(Nguồn: Lý lịch khu di tích khu lăng mộ các vua Lê, Hoàng Thái hậu...1484-1527. Ban Quản lý di tích tỉnh Thái Bình)
(Bà Phùng Thị Thục Giang là con gái Thẩm hình viện đông tri - Tả đô đốc Phùng Tiến Đạt)
Phùng Thị Thục Giang là con gái Gián nghị đại phu Phùng Văn Đạt, thuộc Tả ty môn hạ sảnh, tri Tây đạo quân dân ba tịch. Mẹ họ Trần ở xã Bất Quả, huyện La Giang, là con gái của chỉ huy (Trần) Công Diễn, vốn là tông thất nhà Trần. cháu gái gọi Thị lang bộ Lễ Phùng Nhậm là ông nội. Khi còn trẻ, Phùng Thị Thục Giang “hương trời sắc nước”. Bà sinh ngày Bính Tý tháng 7 năm Thái Hòa Giáp Tý (1444) ở lộ Hóa Châu, trong lúc cha bà làm quan ở đó. Năm 17 tuổi bà được tuyển vào cung hầu vua Lê Thánh Tông ở Tiềm Để, lúc đó Thánh Tông còn là Thái tử. Vua Lê đã đổi tên bà là Diệm Quý. Năm Quang Thuận thứ 2 (1461), tháng 7 ngày Mậu Dần được phong là Tu viên. Năm thứ 7 (1467), bà sinh ra Kiến Vương, tháng 7 ngày Tân Mùi, được phong là Sùng viên (bậc thứ nhất trong chín bậc cung tần). Tháng 10 năm Hồng Đức thứ 20 (1489), nhà vua thương bà có bệnh đã cho ra phủ Kiến Vương để tiện tĩnh dưỡng. Tháng 12 ngày Bính Tuất bà mất, thọ 46 tuổi. Năm Hồng Thuận thứ nhất (1506) Lê Tương Dực cháu nội bà lên ngôi vua, truy tôn bà là Như Huy Tích quang Hoàng Thái hậu, được đưa vào thờ ở Thái miếu. Năm thứ ba lại dâng thêm tôn hiệu là Nhu Huy Tích Quang thuận thánh khâm thận Ôn mục Gia hòa Lương tín Đôn thục Trinh hiến Chương phúc Hoàng Thái hậu.Từ xa xưa Lê Quý Đôn đã viết về bà gọi là hoàng hậu.
Họ Phùng sau đời Phùng Tiến Đạt không còn có ai ở Mỹ Xá nữa, nhưng chính Phùng Thị Thục Giang đã sinh ra Kiến Vương Tân - Kiến Hoàng đế sinh ra Tương Dực (Lê Oanh) và sau đó là các vua Chiêu Tông, Cung Hoàng, Trang Tông - vua mở đầu Trung hưng nhà Lê.
Như vậy, ở làng Mỹ Xá có bốn ông vua Lê:
1- Lê Tương Dực - Lê Oanh (là con trai của Kiến Vương Tân) gọi bà Phùng Thị Thục Giang là bà nội.
2- Chiêu Tông (Lê Tương Dực không có con, nên triều đình đã đưa Lê Y, gọi Tương Dực là chú ruột, Lê Y là con trai anh ruột Tương Dực - Cẩm Giang vương Sùng, lên làm vua gọi là vua Lê Chiêu Tông. Chiêu Tông gọi bà Phùng Thị Thục Giang là Cụ nội.
3- Cung Hoàng (Mạc Đăng Dung đưa em trai Lê Chiêu Tông là Lê Xuân lên làm vua, Lê Xuân gọi Tương Dực là chú ruột). Cung Hoànggọi bà Phùng Thị Thục Giang là Cụ nội.
4- Vị vua thứ tư là Lê Duy Ninh hiệu là Trang Tông (con trai vua Lê Chiêu Tông và Thị nữ Phạm Ngọc Quỳnh. Lê Duy Ninh mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải tự kiếm sống, nợ nần chồng chất, người đương thời gọi là ông chúa Chổm. Năm Quí Tỵ Mạc Đại Chính thứ 4 (1533) Lê Duy Ninh được các cựu thần nhà Lê tôn phò làm vua hiệu là Trang Tông). Trang Tông gọi bà Phùng Thị Thục Giang là kỵ nội.
Bốn ông vua này ở làng Mỹ Xá, huyện Hưng Nhân (nay huyện Hưng Hà) là cháu nội, chắt nội, và chít nội Hoàng Thái hậu Phùng Thị Thục Giang.
Làng Mỹ Xá là nơi yên nghỉ của:
Làng Mỹ Xá hiện nay chỉ có ba họ: Trần, Phạm, Nguyễn. Họ Nguyễn chiếm 80% dân số trong làng, nhưng mọi người vẫn nhớ xưa kia làng Mỹ xá có họ Phùng. Họ Phùng ở làng Mỹ Xá không thể biến mất được. Vậy họ Phùng làng Mỹ Xá sau đời bà Phùng Thị Thục Giang đi đâu? Họ đi lên phương Bắc? Đi ra biển? Hay đi xuống phía Nam? Giáo Sư Phùng Hồ, nghiên cứu họ Phùng ở xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh cho rằng: Cụ Phùng Thạc có thể là con cháu cụ Phùng Văn Đạt và bà Phùng Thị Thục Giang, xa nữa là hậu duệ Thái phó lưỡng triều Phùng Tá Chu đã di cư vào đất Hà Tĩnh. Tác giả cuốn sách này cho rằng, khi họ Phùng ở làng Mỹ Xá Thái Bình hết thịnh thì tất yếu phải ra đi. Phùng đi đâu? Không loại trừ có nhánh đi vào xứ Thanh, xứ Nghệ.
Phùng Vinh
(Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư. Tập 2. Tr 339. NXBKHXH. Năm 1998)
Ông sống dưới đời vua Lê Thái Tông. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Năm 1437, bấy giờ có viên Đồng quan lĩnh Lê Trung Xích sai lính làm việc riêng và làm nhiều điều sai trái. Nguyễn Vĩnh Tích hặc tội, cho là đáng phải biếm chức. Tri từ tụng Trịnh Khắc Phục cứu gỡ choTrung Xích. Vĩnh Tích xin xét tội luôn cả Khắc Phục. Vua không nghe. Ngày hôm sau, Vĩnh Tích dâng sớ từ chức. Chưa được lệnh, Vĩnh Tích không chịu đến ban nữa. Đinh Cảnh An và Phùng Vinh tâu vua: “Vĩnh Tích làm gì mà không phục chức. Vua bèn cho phục chức”.
Định Quận công Phùng Tiến - Thế kỷ XVI
(Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư. Tập 3. Tr 75. NXBKHXH. Năm 1998)
Năm 1516, vua Lê sai Định Quận công Phùng Tiến dẹp loạn do Trần Cảo gây hấn ở Thủy Đường, Thủy Nguyên Hải Phòng.
Phùng Trấn - Thế kỷ XVI
(Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư. NXBKHXH. Tập 3. Tr 75. Năm 1998)
Ông làm Định Quận Công dưới thời vua Lê Tương Dực. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Năm 1516, mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 3 vua sai Định Quận Công Phùng Trấn, Diên Hưng bá Trịnh Khổng Chiêu, Phú Lộc bá Trịnh Ngạc đem quan quân đi đánh mấy lần không được. Trấn và Khổng Chiêu đều bị tử trận”. Sách Khâm Định Cương mục cũng chép như vậy.
Vũ Tá hầu Phùng Mại - Thế kỷ XVI
(Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư. NXBHXH. Tập 3. Tr 76Năm 1998)
Ông Phùng Mại làm quan Vũ tá hầu đời vua Lê Tương Dực. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Năm 1516, bấy giờ, Trịnh Duy Sản đã giết vua, liền bàn mưu với người tông thất và đại thần, định lập Quang Trị, con của Mục Ý Vương, nhưng Vũ Tá Hầu Phùng Mại không nghe, bàn lập con trưởng của Cẩm Giang Sùng là Y. Tường quận công. Phùng Dĩnh sai lực sĩ giết Mại ở Nghị sự đường trong cung cấm rồi lập Quang Trị (khi ấy 8 tuổi). Mới được 3 ngày, chưa kịp đổi niên hiệu, thì Trịnh Duy Đại đem về Tây Đô”. Sách Khâm Định Cương mục cũng chép tương tự.
Tường Quận công Phùng Dĩnh - Thế kỷ XVI
(Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư. NXBKHXH. Tập 3. Tr 76. Năm 1998)
Phùng Dĩnh làm quan Tường Quận công dưới đời Lê Tương Dực. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Năm 1516, bấy giờ, Trịnh Duy Sản đã giết vua, liền bàn mưu với người tông thất và đại thần, định lập Quang Trị, con của Mục Ý Vương, nhưng Vũ Tá Hầu Phùng Mại không nghe, bàn lập con trưởng của Cẩm Giang Sùng là Ỷ Tường quận công. Phùng Dĩnh sai lực sĩ giết Mại ở Nghị sự đường trong cung cấm rồi lập Quang Trị (khi ấy 8 tuổi). Mới được 3 ngày, chưa kịp đổi niên hiệu, thì Trịnh Duy Sản đem về Tây Đô”. Sách Khâm Định Cương mục cũng chép tương tự.
CÁC NHÀ KHOA BẢNG HỌ PHÙNG
THỜI PHONG KIẾN
(Nguồn: Sách Trạng nguyên Bảng nhãn Thám hoa qua các triều đại phong kiến. Trang 319-320. Trần Hồng Đức. NXBVHDT. Năm 2002)
Quê gốc: Nguyên Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Ông thi đỗ Hoàng Giáp Tiến sĩ năm Kỷ Mùi 1499, Trường thi: Kinh đô, niên hiệu Cảnh Thống thứ 2, đời vua Lê Hiến Tông.
Ông làm quan đến Giám sát ngự sử.
Quê gốc: Đông Lỗ, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây.
Ông thi đỗ Tiến sĩ năm Quý Mùi 1523, niên hiệu Thống Nguyên thứ 2, đời vua Lê Tung Hoàng.
Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ, tước Lý Trai bá.
Quê gốc: Tuấn Xuyên, Vạn Thắng, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.
Ông thi đỗ Tiến sĩ năm Đinh Mùi 1547, trường thi Kinh đô. Niên hiệu Vĩnh Định thứ 1, đời vua Mạc Nguyên Phúc.
Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ.
Quê gốc: Xóm Chiềng, Tân Sỏi, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Ông thi đỗ Tiến sĩ năm Giáp Tuất 1574, trường thi Kinh đô. Đời vua Sùng Khang thứ 9 Mạc Hợp Mậu.
Ông làm quan đến chức Tự Khanh.
Quê gốc: Xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây.
Ông thi đỗ Hoàng giáp Tiến sĩ năm Canh Thìn 1580, trường thi Kinh đô. Năm Quang Hưng thứ 3 đời vua Lê Thế Tông.
Ông làm quan đến chức Hộ bộ Thượng thư, kiêm Quốc Tử Giám Tế tửu, hai lần đi sứ nhà Minh.
6. Phùng Thế Triết (Thế Trung) - Thế kỷ XVII
Quê gốc: Kim Bí, xã Tiên Phong, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.
Ông thi đỗ Tiến sĩ năm Quý Hợi 1623, trường thi Kinh đô. Niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 5, đời vua Lê Thần Tông.
Ông làm quan đến chức Hiến sát sứ.
7. Phùng Viết Tu - Thế kỷ XVII
Quê gốc: Tân Quang, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Ông thi đỗ Hoàng giáp Tiến sĩ năm Nhâm Thìn 1652, trường thi Kinh đô. Niên hiệu Khánh Đức thứ tư, đời vua Lê Thần tông.
Ông làm quan đến chức Thiêm đô Ngự sử.
8. Phùng Bá Kỳ - Thế kỷ XVIII
Quê gốc: Thôn Đông, xã Minh Tân, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
Ông thi đỗ Tiến sĩ năm Ất Mùi 1715. Niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11, đời vua Lê Dụ Tông.
Ông làm quan đến chức Thự tham chính Nghệ An.
CÁC QUAN HỌ PHÙNG TRIỀU NGUYỄN
(Nguồn: Sách thân thế cuộc đời và sự nhiệp Phùng Thanh Hoà. GS Trần Vương và Sách họ Phùng tập 5. Nhà nghiên cứu Phạm Minh Quân)
Phùng Văn Nguyệt
Ông làm Tổng nhung cai cơ thời vua Gia Long. Năm 1788, được cất lên làm Lưu thủ Trấn Biên. Sau đó tham gia vào đội quân đánh nhau với Tây Sơn ở Bình Thuận. Do Gia Long thấy Lê văn Quân bệnh lâu chưa khỏi, chia quân ra, cho Khâm sai Tổng nhung cai cơ Phùng Văn Nguyệt coi Trung chi và Nguyễn Văn Lợi coi Tiền chi giữ Bà Rịa. Năm 1793, ông được lệnh cùng với Tham quân Lê Đình Khiêm đốc thúc việc thu thuế ở Quy Nhơn.
Phùng Văn Tiêm
Đại Nam thực lục chép: “Tháng 11, sai các quân thao diễn chiến trận. Vua nghe Cai cơ Nguyễn Đình Đắc biết việc binh, sai đem trận pháp để huấn luyện cho quân sĩ... Đoán Cảnh Cư làm Chánh trưởng chi Hậu chi, Phùng Văn Tiêm làm Phó trưởng chi”. Năm 1791, ông lại được giao giữ Phó trưởng chi Trung chi.
Phùng Văn Súy
Theo Đại Nam thực lục, năm 1801, khi Gia Long chiếm được Hội An, cho quân đuổi Tây Sơn, ông đang là Trưởng hiệu được cất lên giữ chức Phó vệ Thần dũng.
Phùng Thịnh
Đại Nam thực lục chép: Danh sách những người được thờ trong miếu ở Bình Định có tên Phùng Thịnh.
Phùng Thế Thanh
Ông họ Trần nhưng được ghi họ Phùng. Theo Đại Nam thực lục năm 1802, khi lên ngôi vua, Vua Gia Long “Miễn binh dao và thuế thân cho dân An Du. An Du là làng cũ của Quốc mẫu. Vua nhớ ơn Thích lý (làng họ ngoại) nên đặc biệt miễn cho. Phàm những người binh đinh lệ thuộc các đinh cơ về hiệu đội các quân đều cho về dân. Lại cho người họ ngoại là Phùng Thế Thanh chức hàm khám lý”.
Phùng Thế Hòa
Theo Đại Nam, ông là người An Du, huyện Minh Linh. Trước khi lên ngôi, quốc mẫu của vua Gia Long phải ẩn lánh, ông thờ phụng rất kính cẩn vì thế, khi lên ngôi, vua cho Phùng Thế Hòa làm Cai đội, giữ Cửa Sót.
Phùng Thế Xứng
Theo Đại nam thực lục, năm 1812, “vua cấp 5 mẫu ruộng thờ cho họ Phùng ở An Du, sai cai đội Phùng Thế Xứng coi giữ việc thờ cúng”.
Phùng Huy Giảng
Năm 1809 được lấy làm Hàn lâm viện, thăng lên Thiêm sự hình bộ. Năm 1817 được bổ làm Hiệp trấn kinh Bắc, năm 1820, ông ốm yếu được miễn chức. Năm 1821, ông lại được phục chức cũ. Năm 1830, năm Minh Mệnh thứ 11, ông được cất lên làm Chủ sự hình bộ. Năm 1832 thời năm Minh Mệnh thứ 13, ông được kiêm Thự tham hiệp Phú Yên. Cùng năm, ông được đổi sang làm Thự Án sát sứ. Năm 1813, ông bị giáng một cấp. Nguyên nhân là do biến binh Phú Yên khi giao chiến với giặc ở Biên Hòa không hăng hái tiến lên, vua qui tội cho lãnh binh và các quan cai quản đã không làm tròn chức trách huấn luyện binh sĩ. Năm 1834 Minh Mạng 15, ông làm Từ hàn trong quân đánh giặc Kiệu Huống và Khăm khuyết. Năm 1835 được bổ làm Thự án sát Hà Tĩnh, năm 1937 làm Án sát Hà Tĩnh, sau làm Án sát tỉnh Nghệ An. Năm 1939 thăng Bố chính Quảng Bình.
Phùng Khắc Tuân
Theo Đại Nam thực lục, năm 1820, năm Minh Mệnh thứ nhất, ông được bổ làm Tham hiệp trấn Cao Bằng. Năm 1822, năm Minh Mệnh thứ 3, ông bị giáng xuống làm Tri bạ Hậu vệ dinh Hồ oai quân thị nội vì tội: “Trước là Khắc Tuân thiện tiện cho người sai dịch nước Thanh theo đường tắt đem thư đến (lệ phải theo cửa Bác Nẫm), lại phái binh trấn hướn dẫn, bắt người lấy của. Thành thần cho là làm việc phi lệ, tham hặc xin xét hỏi. Khi án xong, giáng 4 cấp đổi bổ chức này”.
Phùng Nghĩa Phương
Theo Đại Nam thực lục, vào năm 1821, năm Minh Mệnh thứ 2, ông đỗ Hương cống (Kỳ thi này có tổng công 40 người đỗ), trong kỳ thi Hương ân khoa ở trường Quảng Đức, ông làm Viên ngoại Lang Bộ Lại, đến năm 1836 được đổi làm Án sử phú Sơn Phủ, rồi làm Sơn Tĩnh Tuyên phủ sứ. Năm 1841, năm Thiệu Trị thứ nhất, ông được đổi làm Lang trung Bộ Lại, rồi làm Bố Chính tỉnh An Giang. Năm 1842, ông có công trong việc trấn yên giặc, được thưởng gia kỷ lục 1 thứ. Năm 1844, vì có tội ông bị miễn chức.
Phùng Văn Bằng
Theo Đại Nam thực lục, năm 1821, ông có tên trong số 23 người đỗ Hương cống tại trường thi Thăng Long.
Phùng Kiệt
Theo Đại Nam thực lục, năm 1825, năm Minh Mệnh thứ 6, ông có tên trong số 2 người đỗ Hương cống ở trường Bắc Thành.
Phùng Đắc Ninh
Theo Đại Nam thực lục, ông có tên trong 53 người thi đỗ Hương cống tại trường thi Thăng Long năm 1819. Ông làm Thự Lang trung Bộ Hộ dưới triều vua Minh Mệnh. Năm 1834, năm Minh Mệnh thư 15, ông được sai đi làm từ hàn trong quân đánh giặc Kiệu Huống và Khâm Khuyết. Năm 1835, ông được điều bổ làm Thự Án sát Hà Tĩnh. Năm 1837, ông làm Án sát Hà Tĩnh, cùng năm lại đổi sang làm Án sát Nghệ An. Năm 1839, ông được thăng Bố chính Quảng Yên.
Phùng Hữu Hòa
Theo Đại Nam thực lục,ông làm Quản cơ Trung dũng dưới triều vua Minh Mệnh.Năm 1834, ông đem 500 binh dõng, hiệp lực với Quản phủ Vĩnh Tường, Lê Huy Trị, đánh giặc ở xã Ngoại Trạch thuộc Yên Lãng, đánh tan giặc. Vua ra dụ chỉ cho Bộ Binh thưởng cho thụ Vệ úy, trật Tòng tam phẩm. Cùng năm này, ông tham gia tiễu giặc ở Thanh ba, có công được gia tăng quân công kỷ lục một thứ. Vua ban tặng ông cùng những người tham gia đánh giặc mỗi người một cái nhẫn pha lê mặt đỏ. Tiếp đó ông là người có tên trong dụ chỉ ban thưởng tiền và quần áo vì có công đánh giặc. Cùng năm ông được bổ làm lãnh binh Tuyên Quang. Ông dẫn quân tham gia trận đánh lấy 2 đồn Đại Man và Trịnh Nghi, giặc phải lui quân. Vua nhận được tin báo, hạ phê: “Đi đến đâu, giặc đều đổ giạt, thế mà binh lính ta hông bị chết, rất tốt”. Xuống dụ thưởng cho bọn Phùng Hữu Hòa, Nguyễn văn Long, Nguyễn Văn Phượng, và Nguyễn văn vinh mỗi người được gia quân công kỷ lục 2 thứ”. Sau đó vì có đơn tham hặc tội hội quân chậm trễ nên ông bị xóa 2 kỷ quân công gia thăng trước đó. Tiếp tục lại có thư tham hặc vì tội tiến quân chậm, ông lại bị giáng 2 cấp. Thực chất ông dẫn quân từ Lang Can, bị giặc chặn đánh, ông nhiều lần giao chiến chém được 7 đầu giặc. Xét công trạng, ông lại được khôi phục những cấp bị giáng. Năm 1835, ông được đổi làm lãnh binh Bắc Ninh. Năm 1840 ông được đổi làm Lãnh binh Hà Nội. Cùng năm, ông có công hộ đê, được gia thưởng quân công và 200 quan tiền. Năm 1842, để chuẩn bị cho việc tiếp đón sứ nhà Thanh, ông được sung việc hậu tiếp ở công quán Gia Thụy. Cùng năm, sử chép, ông có tội, bị miễn chức (không ghi rõ tội gì), sau phục lại làm Phó lãnh binh Hà Nội. Năm1843, ông được thăng Thự Lãnh binh tỉnh Quảng Bình. Năm 1844, không rõ vì lí do gì, ông bị giáng 1 cấp. Năm 1845, ông lại được thăng thụ Chưởng vệ. Năm 1846, ông được sung Đề đốc dinh Tả. Có công hộ Lễ, được ban thưởng bạc. Năm 1847, ông được thăng Thự Thống chế dinh Hồng Nhuệ, sau đó được sung làm Bồi liễn đại thần. Khi ông về hưu, hàng năm đều có tiền thưởng ban tặng.
Phùng Văn Hồ
Theo Đại Nam thực lục, ông có tên trong số 40 người đỗ cử nhân trong kỳ thi tại trường Thừa Thiên năm 1841, năm Thiệu trị thứ nhất.
Phùng Văn Chiếu
Theo Đại Nam thực, ông làm suất đội dưới triều vua Thiệu Trị.
Phùng Thế Hiền
Theo Đại Nam thực lục, ông làm chức Cai tổng ở Quảng Trị.
Phùng Tường Vân
Theo Đại Nam thực lục, ông là một trong 20 người đỗ cử nhân tại trường thi Gia Định khoa thi năm 1846, năm Thiệu Trị thứ 6.
Phùng Văn Thìn
Ông là Cai đội, có tên trong số 153 người được thờ ở nhà bên đông trong đền thờ Trung Nghĩa (những người có công đánh giặc) vào năm 1856, đời vua Tự Đức thứ 9.
Phùng Tiến Lao
Theo Đại Nam thực lục, ông làm Cai đội, có tên trong số 153 người được thờ ở nhà bên đông trong đền thờ Trung Nghĩa (những người có công đánh giặc) vào năm 1856, đời vua Tự Đức thứ 9.
Phùng Danh Lưu
Theo Đại Nam thực lục, ông là Tú tài đất Sơn Tây, sau làm chức Dực Thiện. Vì có công quyên tiền nên được thưởng hàm Thị giảng. Năm 1875, đời vua Tự Đức thứ 28, “khi ấy ông đã hơn 70 tuổi lại xin quyên thêm 256 lạng bạc, gọi là để giúp quân nhu, may được sung bổ một chức để hết sức làm việc. Vua cho là Lưu rất có lòng, chuẩn cho thưởng thụ Lang trung, do Bộ Lại xét bổ, để cho người biết khuyến khích”.
Phùng Đình Hữu
Theo Đại Nam thực lục, ông làm Quản đới dưới trướng của Phó tướng Đảng Mẫn Tuyên đời vua Tự Đức.
Phùng Sáng
Ông là Cai đội dưới thời Tự Đức. Theo Đại Nam thực lục, ông được chuẩn cho thờ trong đền Trung Nghĩa, gian bên phía đông, án thứ nhất, cùng 151 người khác và năm 1880.
Phùng Trọng Chân
Ông là Cai đội dưới thời Tự Đức. Theo Đại Nam thực lục, ông được chuẩn cho thờ trong đền Trung Nghĩa, gian bên phía đông, án thứ nhất, cùng 148 người khác và năm 1880.
Phùng Văn Hoan
Ông là Cai đội dưới thời Tự Đức. Theo Đại Nam thực lục, ông được chuẩn cho thờ trong đền Trung Nghĩa, gian bên phía đông, án thứ nhất, cùng 141 người khác và năm 1880.
Phùng Đăng Cận
Ông là Chánh đội trưởng dưới thời Tự Đức. Theo Đại Nam thực lục, ông được chuẩn cho thờ trong đền Trung Nghĩa, gian bên phía đông, án thứ nhất, cùng 30 người khác vào năm 1880.
Phùng Văn Thuận
Theo Đại Nam thực lục, năm 185, Hàm Nghi nguyên niên, “Bè lũ bọn giặc Sậy (tục gọi là Bãi Sậy, ở giáp giới Hưng Yên, Bắc Ninh, các đồ đệ giặc phần nhiều tụ họp ở đấy) hợp với các tên phạm trốn ở hạt Thanh Trì, Thanh Oai, Ứng Hòa, Thường Tín thuộc Hà nội, quấy nhiễu ở các hạt ấy. Viên Tổng đốc ấy tức thì rút Hữu Tín về, lại bàn ủy quan Tuần phủ là Cao Xuân Dục, đến đấy chặn đánh. Đến nơi, thì người hạt phủ ấy là Nguyễn Chúc (Chánh bát phẩm Bang tá phủ Trường Khánh cáo bệnh về hôm trước, viên phủ Thường Tín đã sức đến phủ bàn giúp), mới cùng Tòng cửu phẩm bách hộ Phùng Văn Thuận đem thủ hạ đến cùng giao chiến, thu lại được phủ thành”. Vì công lao ấy, ông được thăng lên Chánh cửu phẩm bách bộ.
Phùng Đại
Theo Đại Nam thực lục, năm 1885, triều vua Đồng Khánh, ông được cử làm Đốc binh đóng ở tổng Tài Lương.
Phùng Văn Kỷ
Theo Đại Nam thực lục, Đồng Khánh năm thứ nhất 1886, ông vốn là Giám binh trong hàng ngũ giặc ở Bình Định, ra đầu thú triều đình, được bổ nhiệm lại chức cũ.
Tham tri Phùng Duy Cần - Thế kỷ XIX [1]
(Nguồn: Chính phủ chung của Đông Dương, dịch vụ thông tin, chủ quyền và tôn giáo Đông Dương. Hồ sơ theo thứ tự chữ cái, Hà Nội, IDEO, 1943)
Ông sinh năm 1890, quê làng Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh (tài liệu Toàn quyền Đông Dương viết, quê ông ở Hạ Từ, tỉnh Hà Tĩnh). Ông học chữ Hán, tự học chữ Pháp, năm 25 tuổi đậu Tú Tài khoa Ất Mão (1915, Duy Tân thứ 9). Hoạn lộ của ông bắt đầu từ một người thợ ở bộ Công (1910). Ông đã trải qua các chức Thừa phái (1912), Tư vụ (1917), Viên ngoại (1924), Tri phủ (1926), Quản Đạo KonTum (1928), Án sát Bình Thuận (1930), Tá Lý (1933) rồi Thị lang bộ Công, Quản Đạo Gia Lai (1934). 5 năm sau ông lại được rút về Huế làm Thị lang bộ Hình, ít lâu sau lại chuyển qua Tham tri bộ Lại (1939), rồi bộ Lễ, bộ Công (1942). Nhờ vốn kiến thức tự học về kiến trúc xây dựng ông đã được bộ Công tín nhiệm giao cho ông tổ chức tu sửa, xây dựng nhiều công trình lớn của triều đình Huế như: Trường Hậu Bổ xây dựng trên mảnh đất Nha Thương Bạc xưa (nơi tọa lạc Nhà hát Hưng Đạo ngày nay), Trường Quốc Tử Giám (Nhà Bảo tàng Lịch sử Cách mạng Thừa Thiên Huế ngày nay), Viện Cơ Mật (Trụ sở Trung tâm bảo tồn Cố đô di tích (TTBTDT) - Cố đô Huế ngày nay, Cung Trường Sanh (từ 1915 đến 1919), ông trực tiếp chỉ huy công trường xây dựng Lăng Vạn Vạn (thân mẫu vua Khải Định) ở An Cựu và Lăng Khải Định ở Châu Ê (1919-1926). Trong thời gian làm Quản Đạo ở Tây Nguyên ông đã có công mở rộng đô thị và thành lập nhiều làng ở KonTum và Pleiku. Ba lần đóng góp vào cuộc thám hiểm chống lại các cuộc khởi nghĩa năm 1929. Phái đoàn chính phủ An Nam thực hiện chuyến đi kiểm soát các khu vực chiến lược (đường số 14) vào tháng 3 năm 1940. Tham tri Phùng Duy Cần là cha đẻ ông Phùng Duy Phiên, Vụ trưởng Vụ Thể thao Quốc phòng thuộc Ủy ban Thể thao Quốc gia (1962); Ông cũng là cha đẻ bà Phùng Thị Cúc (Điềm Phùng Thị) - nhà Điêu khắc lớn thế kỷ XX, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học - Nghệ thuật châu Âu, Tiến sĩ y học ở Paris.
Năm 1955,Bà Điềm Phùng Thị nghiên cứu bản đồ Tây Nguyên chuẩn bị thăm chốn cũ,nơi bà đã theo cha khi ông làm Quản đạo ở Gia Lai và KonTum (1928-1934), bà đã tìm thấy một buôn làng còn giữ tên Plei Kần do nhân dân địa phương đặt để nhớ về cụ thân sinh bà.(phải chăng làng Plei Kần bây giờ là thị trấn Plei Kần thuộc huyện Ngọc Hội tỉnh Kon Tum?).
CÁC NHÂN VẬT LỊCH SỬ KHÁC(THUỘC TRIỀU NGUYỄN)
Phùng Khắc Nhuận - Thế kỷ XIX
(Nguồn: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nguyễn Quang Thắng - Nguyễn Bá Thế. NXBVH. năm 1999)
Phùng Khắc Nhuận là nhà yêu nước thế kỷ XIX, quê ông ở làng Vân Cốc, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà tây (nay là thành phố Hà Nội). Ông đỗ cử nhân năm 1888 tại trường Hà Nam (khoa Đồng Khánh thứ 3), nên tục gọi là cử Nhuận. Tương truyền, khoa thi năm Mậu Thìn (1868), đề thi bài phú là “dĩ thiên hạdưỡng phú” (Lấy cả thiên hạ nuôi) vận là “thử chi vi đại hiếu”. Vì ông vốn phản đối thái độ vua Tự Đức không quan tâm đến việc chống ngoại xâm mà chỉ lo chữ hiếu với mẹ (Từ Dũ), nên ông cố tình viết chệch chữ phú ra chữ tặc thành ra “Dĩ thiên hạ dưỡng tặc” (lấy thiên hạ nuôi giặc). Do đó ông bị hạ ngục, ít lâu mới được trả tự do rồi đuổi về quê. Ở quê, ông ngầm liên kết với các lực lượng yêu nước kháng chiến chống Pháp. Từ năm 1883 - 1885, ông phục vụ trong nhóm nghĩa quân cần vương do Bố Chánh Nguyễn văn Giáp lãnh đạo. Ít lâu sau lực lượng nghĩa quân tan rã, ông lui về quê ẩn cư, đến năm 1888 ra thi đỗ cử nhân nhưng vẫn không ra làm quan và mất năm nào không rõ. Sĩ phu đương thời có thơ ca ngợi ông:
Phùng Xuất Nghĩa - Thế kỷ XIX.
(Nguồn: Sách 284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam, tr.37, NXB CAND, Vũ Thanh Sơn. Năm 2009)
Phùng Xuất Nghĩa quê ở Làng Trích Sài, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Ông là người cương trực, thường lên án bọn quan lại, cường hào ức hiếp dân, bênh vực người nghèo. Ngày 1 tháng 10 năm Quý Dậu, Tự Đức thứ 26 (20/11/1873), quân Pháp do Francis Garner đánh chiếm thành Hà Nội, sau đó lấn ra phủ Hoài Đức, huyện Từ Liêm, huyện Gia Lâm, huyện Thanh Trì của các tỉnh Hà Đông, Bắc Ninh… Triều đình Huế đã ra lệnh bãi binh, ngăn cấm nhân dân nổi dậy chống Pháp. Mặc cho triều đình đầu hàng, nhân dân các huyện giáp ranh với Hà Nội vẫn tập hợp lực lượng, tự trang bị vũ khí, thành lập các đội nghĩa binh chống Pháp ở khắp nơi. Phùng Xuất Nghĩa được cụ đồ Tịch ở làng Cổ Nhuế giúp đỡ đã đứng ra thành lập Nghĩa hội, tuyên truyền phát động nhân dân đứng lên đánh Pháp. Ông vốn là người ngao du rộng, được nhiều thân hào, thân sĩ trong vùng kính trọng nên vừa xướng nghĩa đã có đông đảo người yêu nước gồm các nhà nho, người lao động, dân buôn bán, thợ thủ công, làm công cho Pháp các làng Trích Sài, Quán La, Võng Thị, Bưởi, Nghi Tàm ven Hồ Tây tham gia. Phùng Xuất Nghĩa tuyển chọn những người khỏe mạnh hăng hái vào đội nghĩa quân. Nghĩa quân tự trang bị vũ khí bằng giáo mác, gậy gộc, súng kíp. Những người còn lại chuyên lo việc điều tra tin tức của địch báo cho quan quân phe chủ chiến, quyên góp tiền bạc, lương thực ủng hộ nghĩa quân. Phùng Xuất Nghĩa tổ chức lễ Tế cờ long trọng ở gò Ngũ Nhạc trong làng Trích Sài giáp ranh với làng Cổ Nhuế, có đông đảo nhân dân vùng Hồ Tây tham dự rồi dẫn quân đi tìm giặc Pháp để tiêu diệt.* (Theo Hà Nội, thủ đô nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trần Quốc Vượng chủ biên, NXB QĐND).
Do lực lượng của ông ít, vũ khí thô sơ, nên đội quân của Phùng Xuất Nghĩa chủ yếu tập kích các đồn giặc vào ban đêm, phục kích các cánh quân đi càn, đi tuần tiễu. Ông chỉ huy đánh các kho vũ khí quân lương, cướp thuyền của bọn công giáo phản động chở lương thực, thực phẩm tiếp tế cho quân Pháp. Những hoạt động quân sự, tình báo của Phùng Xuất Nghĩa gây cho quân Pháp nhiều tổn thất, nhiều lần giặc Pháp tung quân đi đánh song đều bị ông đánh cho thất bại. Giặc Pháp thuyết phục dụ dỗ ông theo chúng, ông khảng khái từ chối. Chúng đã bắt được ông tra tấn cực kỳ dã man, Phùng Xuất Nghĩa đã hy sinh. Nhân dân vùng Hồ Tây vô cùng thương xót và kính trọng. Nhiều gia đình đã lập bàn thờ ông và lưu truyền sự tích anh hùng của ông đến ngày nay.