(Thứ năm, 26/02/2026, 09:54 GMT+7)

 

 
Ngôn chí thi tập là tên tác phẩm do chính tác giả đặt ra và ghi lại trong lời Tựa. Ngôn chí thi tập theo từng năm mà viết ra, cứ 10 năm thì đóng thành tập, kể từ năm 16 tuổi đến năm 86 tuổi phải có tới 7 tập, nhưng tác phẩm hiện chỉ còn đến cuối tập V, lúc tác giả chừng 60 tuổi. Tổng tất cả thơ Ngôn chí còn lại khoảng hơn 240 bài. Mấy trăm bài thơ trong tập Ngôn chí được viết trong thời gian gần 50 năm, từ thuở thiếu thời đến buổi vãn niên. Nội dung của tập thơ trải ra trên mọi mặt sinh hoạt, tâm trạng, hành vi, lý tưởng trong gần suốt cuộc đời tác giả. Tập thơ vừa có tính chất kỷ sự, vừa có tính chất trữ tình. Có thể xem đó là tiếng nói chân thành và trung hậu của một sĩ đại phu có tâm huyết, hoài bão, có niềm ưu ái và lòng yêu nước thương đời.

Thơ tuyển chọn những bài tiêu biểu.

 
 

 
Đền thờ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan tại Hà Nội


遠 寄 友 人
 
自 君 別 後 到 于 今
魚 雁 書 稀 寄 語 音
驛 遠 折 來 梅 又 肄
更 闌 想 處 夢 相 尋
江 山 雖 隔 千 餘 里
道 義 猶 存 一 寸 心
自 古 大 才 應 大 用
丈 夫 肯 與 世 浮 沉
 
Phiên âm:
 
VIỄN KÝ HỮU NHÂN
 
Tự quân biệt hậu đáo vu câm (kim),
Ngư nhạn thư hy ký ngữ âm.
Dịch viễn chiết lan mai hựu dị,
Canh lan tưởng xứ mộng tương tầm.
Giang sơn tuy cách thiên dư lý,
Đạo nghĩa do tồn nhất thốn tâm.
Tự cổ đại tài ưng đại dụng,
Trượng phu khẳng dữ thế phù trầm.
 
 
Dịch nghĩa:
 
GỬI CHO BẠN NƠI PHƯƠNG XA
 
Từ khi từ biệt bác đến nay,
Ít khi có thư từ gửi thăm hỏi([1]).
Nhà trạm xa, bẻ cành mai gửi, mai lại non quá([2]),
Đêm canh tàn, nhớ chỗ bác đang ở, chỉ mơ mộng tìm.
Giang sơn tuy cách xa ngàn dặm,
Đạo nghĩa vẫn còn một tấc lòng.
Xưa nay tài lớn nên dùng vào việc lớn,
Trượng phu sao lại để mình nổi chìm theo đời?
 
Dịch thơ:
 
Từ ngày xa bạn đến nay,
Tình xưa gửi nhạn mỗi ngày một thưa.
Dặm xa mai nở đương vừa,
Lan tàn mấy độ mộng đưa mấy lần.
Cách non tuy mấy nghìn tầm,
Tấc lòng vẫn nhớ đạo gần nghĩa xa.
Đại tài đại dụng đạo ta,
Không vương thế tục mới là trượng phu.
 
                                           Trần Lê Sángdịch
 
 
 
 
元  日
 
時 蓋 丙 午 十 九 歲 也 是 歲 六 月 父 抵 受
東 闌 縣 知 縣 余 與 弟 克 壯 從 至 任 所
 
自 從 一 氣 轉 洪 鈞
剩 喜 年 來 節 侯 新
柏 酒 袪 寒 迎 令 旦
椒 盤 獻 頌 樂 芳 辰
杓 回 星 斗 時 行 夏
案 積 圖 書 日 有 春
酌 了 屠 蘇 無 些 事
肅 將 五 福 祝 靈 椿 
 
Phiên âm:
 
NGUYÊN NHẬT
(Thời cái Bính Ngọ, thập cửu tuế dã. Thị tuế lục nguyệt,
phụ để thụ Đông Lan huyện Tri huyện, dư dữ đệ Khắc Tráng
tòng chí nhậm sở)
 
Tự tòng nhất khí chuyển hồng quân,
Thặng hỉ niên lai tiết hậu tân.
Bách tửu khư hàn nghênh lệnh đán,
Tiêu bàn hiến tụng lạc phương thần.
Tiêu hồi tinh đẩu thời hành Hạ,
Án tích đồ thư nhật hữu xuân.
Chước liễu đồ tô vô tá sự,
Túc tương ngũ phúc chúc linh xuân.
 
Dịch nghĩa:
 
NGÀY ĐẦU NĂM
(Bấy giờ năm Bính Ngọ [1546], tôi 19 tuổi. Tháng 6 năm ấy,
 cha tôi đi nhậm chức Tri huyện huyện Đông Lan([3]), tôi và em tôi
 là Khắc Tráng([4])theo cha tôi đến chỗ nhậm sở)
 
Từ khi khí trời chuyển bàn xoay vần của tạo hóa,
Lại mừng sang năm mới tiết trời đổi mới.
Uống rượu ngâm lá bách trừ tà khí, đón ngày đầu xuân,
Dâng tụng hoa tiêu chúc thọ([5]), vui buổi lương thần.
Chuôi sao Bắc đẩu([6]) xoay dần, thời tiết theo lịch nhà Hạ([7]),
Bàn xếp sách vở đầy cả, tháng này vui cảnh xuân.
Rót rượu đồ tô([8]) chúc nhau xong, không có việc gì nữa,
Chỉ có việc là đem ngũ phúc([9]) chúc thọ phụ thân.
 
Dịch thơ:
 
Từ khi thời tiết chuyển xoay vần
Vui vẻ gia đình đón tiết xuân
Rượu bách trừ tà năm mới đến
Hoa tiêu chúc thọ buổi lương thần
Chuôi sao Bắc Đẩu xoay hành Hạ
Bàn xếp sách đầy đón cảnh xuân
Chén rượu đồ tô xong hết việc
Mới đem ngũ phúc kính song thân.
 
                                               Đặng Văn Sinhdịch
 
 
 
 
病 中 書 懷 三 首
其 一
 


便
使




 
 
Phiên âm:
 
BỆNH TRUNG THƯ HOÀI
(TAM THỦ)
 
KỲ NHẤT
 
Bình sinh chính trực hựu trung thành,
Tráng chí cao huyền nhật nguyệt minh.
Bút hạ tiện giao phong vũ động,
Thi thành giải sử quỷ thần kinh.
Tùng ư tuế hậu tiết vưu kính,
Mai hướng xuân tiên sắc dũ thanh.
Vinh tiến an bài thiên mệnh định,
Cổ lai bạch ốc khởi công khanh.
 
Dịch nghĩa:
TÂM SỰ LÚC ỐM
(BA BÀI)
 
BÀI MỘT
 
Ta bình sinh vốn chính trực lại trung thành,
Tráng chí cao minh như mặt trăng mặt trời.
Hạ bút, khiến gió mưa phải động,
Thơ viết xong, quỷ thần cũng phải kinh.
Cây thông thêm năm tháng đốt càng cứng,
Cây mai trước tiết xuân về sắc càng thanh khiết.
Phú quý vinh hoa mệnh trời đã định sắn,
Xưa nay vẫn có xuất thân nghèo hèn mà làm đến
          công khanh.
 
Dịch thơ:
 
Bình sinh chính trực lại trung thành,
Tráng chí cao ngời nhật nguyệt minh.
Hạ bút làm cho mưa gió động,
Thơ thành khiến được quỷ thần kinh.
Tùng sau năm rét tiết càng cứng,
Mai trước xuân hoa sắc vẫn trong.
Vinh hiển do trời an định sẵn,
Nhà tranh có chí vẫn thành danh.
 
                                        Bùi Duy Tândịch
 
 
 
 
 
 
其 二
 
鐵 作 心 腸 石 作 肝
凌 凌 勁 氣 日 星 完
靈 臺 瑩 若 三 秋 水
素 業 香 於 五 桂 山
家 有 書 藏 春 富 貴
慮 無 塵 浼 日 清 閒
以 文 章 顯 吾 儒 事
投 筆 何 須 效 阿 班
 
Phiên âm:
 
KỲ NHỊ
 
Thiết tác tâm tràng thạch tác can,
Lăng lăng kính khí nhật tinh hoàn.
Linh đài oánh nhược tam thu thủy,
Tố nghiệp hương ư ngũ quế san (sơn).
Gia hữu thư tàng xuân phú quý,
Lự vô trần mỗi nhật thanh nhàn.
Dĩ văn chương hiển ngô nho sự,
Đầu bút hà tu hiệu A Ban.
 
Dịch nghĩa:
 
BÀI HAI
 
Tâm tràng như sắt, gan như đá,
Khí phách cứng rắn hoàn toàn như sao như mặt trời.
Tấm lòng trong sáng như nước ba tháng mùa thu,
Nghiệp thanh bạch thơm tho hơn năm cây quế([10]).
Nhà chứa nhiều sách vở, xuân sang thêm giàu.
Tâm không bị trần tục làm bẩn,
             ngày thường thanh nhàn.
Dùng văn chương để làm hiển đạt sự nghiệp
               của nhà nho ta,
Cần gì phải bắt chước Ban Siêu ném bút xuống đất([11]).                                           
 
Dịch thơ:
 
Tâm tràng như sắt, đá đúc gan
Tinh nhật xông pha vũ trụ gian
Lòng tựa ba thu hồ nước lặng
Nghiệp nhà hơn cả Đậu Yên san
Đầy kho sách cổ càng phú quý
Rũ sạch bụi trần hưởng thú nhàn
Nho đạo hiển dương thành sự nghiệp
Cớ gì ném bút học chàng Ban?
 
                                                Đặng Văn Sinhdịch
 
 
 
 
其 三
 
文 星 久 已 現 馮 村
應 為 吾 家 耀 福 門
父 子 相 傳 儒 是 業
古 今 不 變 道 常 存
青 氈 業 繼 家 聲 舊
白 日 歡 承 綵 色 溫
天 意 至 公 無 厚 薄
只 留 福 做 我 兒 孫
 
Phiên âm:
 
KỲ TAM
 
Văn tinh cửu dĩ hiện Phùng thôn,
Ưng vị ngô gia diệu phúc môn.
Phụ tử tương truyền Nho thị nghiệp,
Cổ kim bất biến đạo thường tồn.
Thanh chiên nghiệp kế gia thanh cựu,
Bạch nhật hoan thừa thái sắc ôn.
Thiên ý chí công vô hậu bạc,
Chỉ lưu phúc tố ngã nhi tôn.
 
Dịch nghĩa:
 
BÀI BA
 
Văn tinh lâu nay đã hiện ở làng Bùng([12]),
Nên vì nhà ta soi sáng cửa phúc.
Cha con nối nhau truyền nghiệp Nho gia,
Đạo còn mãi xưa nay không biến đổi.
Cái nệm lông xanh([13]) nối nghiệp cha ông,
                nếp nhà theo lối cũ,
Ngày sáng rõ, vui lòng cha mẹ, đượm vẻ vui tươi.
Ý trời rất công bằng, không hậu bạc với ai cả,
Chỉ để phúc lại cho con cháu làm nên mà thôi.
 
Dịch thơ:
 
Văn Xương đến địa phận thôn Bùng
Chiếu ứng nhà ta sáng một vùng
Con nối chí cha hưng nghiệp lớn
Xưa nay chẳng đổi, đạo vô cùng
Nệm xanh kế nghiệp theo đường cũ
Ngày sáng vui hòa khúc nhạc chung
Thiên ý công bằng không lệch lạc
Chỉ lưu phúc đức hiển họ Phùng.
 
                                            Đặng Văn Sinhdịch
 

 


([1])Câu này nguyên văn là “ngư nhạn thư hy”,tức hiếm có thư cá, thư nhạn. Xưa Cát Nguyên thấy một người bán một con cá to, bảo tạm phiền con cá này đưa tin đến cho Hà Bá. Người bán cá nói: “Cá đã chết”. Cát Nguyên viết bức thư chữ đỏ ấn vào miệng cá, rồi quẳng cá xuống sông. Một lát cá lại nhảy lên bờ, nhả ra một bức thư khác rồi biến đi. Thư nhạn, hay nhạn túc: Xưa Hán Vũ Đế bắn được con chim nhạn ở vườn Thượng Lâm, chân có buộc bức thư nói, Tô Vũ đi sứ bị Hung Nô đày đi chăn dê trên núi hiện vẫn còn sống.
([2])Bẻ cành mai gửi: dịch chữ “chiết mai”. Xưa Lục Khải chơi thân với Phạm Việp. Khi ở Giang Nam gặp người phu trạm, Lục Khải gửi cho Phạm Việp một cành mai và bài thơ có câu: “Giang Nam vô sở hữu, liêu tặng nhất chi mai” (Giang Nam không có gì; tạm gửi tặng một nhành mai) để biểu thị lòng nhớ bạn.
([3])Đông Lan: địa danh, tên huyện xưa thuộc tỉnh Sơn Tây, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phú.
([4])Khắc Tráng: em trai Phùng Khắc Khoan. Chưa rõ lai lịch, hành trạng người em này của ông.
([5])Tích xưa, vợ Lưu Trăn là Trần thị dâng bài tụng Tiêu hoa vào dịp tết. Bài tụng này nói việc dâng rượu nấu bằng hạt cây hồng tiêu để chúc thọ.
([6])Chòm sao Bắc đẩu có 7 ngôi, 3 ngôi ở chuôi gọi là “tiêu”.
([7])Lịch nhà Hạ: tương truyền có từ đời nhà Hạ, lấy tháng Giêng làm đầu năm.
([8])Đồ tô: tên một loại rượu dùng uống vào ngày mồng một tết để trừ tà khí. Mọi người trong gia đình theo thứ tự uống mừng tuổi nhau.
([9])Ngũ phúc: tức sống lâu, giàu có, mạnh khỏe bình yên, thích làm điều nhân đức và tận hưởng tuổi già.
([10])Đậu Yên Sơn có năm người con đều ở hàng khoa hoạn, đời gọi là 5 cây quế.
([11])Ban Siêu người đời Hán, lúc nghèo khổ thường đi viết thuê kiếm miếng ăn, cuộc sống rất chật vật. Một hôm ông phẫn chí ném bút xuống đất nói: “Tài trai nên lập công ở ngoài; hà tất phải theo nghiệp bút nghiên mãi”. Sau đó đầu quân đi đánh dẹp, lập nhiều võ công, được vua phong thưởng.
([12])Làng Bùng: làng quê của Phùng Khắc Khoan.
([13])Cái nệm lông xanh: đó là vật biểu tượng cho sự nối nghiệp của nhà Nho. Vương Hiến Chi, một danh sĩ đời Tấn, đêm nằm trong buồng học, kẻ trộm vào lấy của, Vương nói: “Kẻ trộm kia! Cái nệm lông xanh kia là cổ vật của nhà ta để lại”. Nhà họ Vương nổi tiếng về văn học và thư pháp với các tên tuổi như Vương Hy Chi, Vương Hiến Chi.